Luận văn thạc sĩ: Quản lý giáo dục di sản văn hóa vật thể THPT Cao Bằng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh các trường thpt thành phố cao bằng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Giả thuyết khoa học

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Giới hạn nghiên cứu

8. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Trên thế giới

1.2. Một số khái niệm công cụ

1.2.1. Khái niệm quản lý

1.2.2. Khái niệm giá trị, văn hóa, di sản văn hóa, giá trị di sản văn hóa

1.2.3. Khái niệm giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể

1.2.4. Quản lý giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể

1.2.5. Giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh trung học phổ thông

1.3. Mục tiêu của việc giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh THPT

1.4. Nội dung giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh THPT

1.5. Phương pháp giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh THPT

1.6. Quản lý giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh THPT

1.6.1. Lập kế hoạch giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh THPT

1.6.2. Tổ chức hoạt động giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh

1.6.3. Chỉ đạo, triển khai giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh THPT

1.6.4. Kiểm tra, đánh giá giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh THPT

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh THPT

1.7.1. Các yếu tố khách quan

1.7.2. Các yếu tố chủ quan

1.8. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

2.1. Khái quát chung về tình hình giáo dục ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cao Bằng

2.1.1. Về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, GV của các trường THPT trên địa bàn thành phố Cao Bằng

2.1.2. Về quy mô trường lớp và cơ cấu thành phần dân tộc của các trường THPT trên địa bàn thành phố Cao Bằng

2.1.3. Về chất lượng giáo dục hai mặt của các trường THPT thành phố Cao Bằng trong năm học 2017-2018

2.2. Khái quát giá trị di sản văn hóa vật thể ở tỉnh Cao Bằng

2.3. Khái quát về khảo sát thực trạng quản lý giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.3.1. Mục tiêu khảo sát

2.3.2. Nội dung khảo sát

2.3.3. Phương pháp khảo sát và xử lý số liệu khảo sát

2.4. Thực trạng giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, GV và học sinh về quản lý giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.4.2. Thực trạng nội dung giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.4.3. Phương pháp giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.4.4. Con đường giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.5. Thực trạng quản lý giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.5.1. Kế hoạch của Hiệu Trưởng về giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.5.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.5.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.5.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.5.5. Những khó khăn của nhà trường trong quản lý giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.6. Đánh giá chung về quản lý giáo dục giá trị DSVH vật thể các trường THPT thành phố Cao Bằng

2.6.1. Về hạn chế

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DSVH VẬT THỂ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.2. Các biện pháp quản lý giáo dục giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh các trường THPT thành phố Cao Bằng tỉnh Cao Bằng

3.2.1. Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức cho các lực lượng trong và ngoài nhà trường về việc giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh

3.2.2. Biện pháp 2: Thành lập ban chỉ đạo quản lý giáo dục giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh

3.2.3. Biện pháp 3: Huy động các nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể trong nhà trường

3.2.4. Biện pháp 4: Bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho giáo viên

3.2.5. Biện Pháp 5: Đa dạng hóa các hình thức và phương pháp dạy học giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể trong nhà trường

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Khảo sát sự cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh

3.4.1. Mục đích khảo nghiệm

3.4.2. Nội dung khảo nghiệm

3.4.3. Cách thức khảo ghiệm

3.4.4. Kết quả khảo nghiệm

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Quản Lý Giáo Dục Di Sản THPT 55 ký tự

Luận văn tập trung vào việc quản lý giáo dục di sản văn hóa trong các trường THPT, đặc biệt là di sản văn hóa vật thể. Nghiên cứu này xem xét vai trò của di sản văn hóa trong việc bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cho học sinh. Luận văn cũng phân tích thực trạng quản lý giáo dục di sản tại các trường THPT, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này. Tài liệu gốc được sử dụng trong luận văn là công trình nghiên cứu của Cam Thị Phương Lâm về quản lý giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh THPT tại Cao Bằng. Luận văn khẳng định tầm quan trọng của việc kết hợp lý thuyết và thực hành, gắn nhà trường với di sản, nhằm tạo ra những bài học sinh động và ý nghĩa cho học sinh. Việc giáo dục di sản không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước, và lòng biết ơn đối với tổ tiên. Luận văn cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để đa dạng hóa nội dung và hình thức giảng dạy, khơi gợi tình cảm và trách nhiệm của học sinh đối với di sản văn hóa.

1.1. Mục Tiêu và Phạm Vi Nghiên Cứu Quản Lý Di Sản Văn Hóa

Luận văn xác định mục tiêu là đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục di sản văn hóa hiệu quả tại các trường THPT ở thành phố Cao Bằng. Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp quản lý giáo dục, tập trung vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị di sản. Nghiên cứu giới hạn phạm vi khảo sát trong 5 trường THPT trên địa bàn, sử dụng phương pháp điều tra khảo sát CBGV, HS để thu thập dữ liệu thực tế. Thời gian nghiên cứu từ 10/2018 đến 06/2019.

1.2. Ý Nghĩa Thực Tiễn và Đóng Góp Mới Của Luận Văn Về DSVH

Luận văn góp phần vào việc làm rõ thực trạng quản lý giáo dục di sản văn hóa tại các trường THPT, đặc biệt là ở Cao Bằng. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp cụ thể, có tính ứng dụng cao để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục giá trị di sản cho học sinh. Luận văn còn khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh đối với di sản văn hóa, giúp các em trở thành những công dân có trách nhiệm với quê hương, đất nước.

II. Thách Thức Quản Lý Giáo Dục Di Sản Văn Hóa THPT 57 ký tự

Việc quản lý giáo dục di sản văn hóa trong trường THPT hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt về nguồn lực, bao gồm cả nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực. Nhiều trường THPT còn thiếu các trang thiết bị, tài liệu và giáo viên có chuyên môn về di sản văn hóa. Bên cạnh đó, nội dung và phương pháp giáo dục di sản còn chưa thực sự hấp dẫn và phù hợp với học sinh. Học sinh thường cảm thấy khô khan, nhàm chán khi học về di sản văn hóa. Ngoài ra, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục di sản còn chưa chặt chẽ. Gia đình và cộng đồng chưa thực sự quan tâm và tham gia vào các hoạt động giáo dục di sản của nhà trường.

2.1. Thiếu Hụt Nguồn Lực và Cơ Sở Vật Chất Cho Giáo Dục DSVH

Thực tế cho thấy, nhiều trường THPT còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, đặc biệt là các phòng học bộ môn chuyên biệt cho việc giáo dục di sản văn hóa. Các tài liệu, tư liệu về di sản cũng còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu của học sinh và giáo viên. Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các hoạt động ngoại khóa, tham quan di tích cũng còn gặp nhiều khó khăn.

2.2. Nội Dung và Phương Pháp Giáo Dục Di Sản Văn Hóa Cần Đổi Mới

Nội dung giáo dục di sản văn hóa trong chương trình THPT hiện nay còn mang tính lý thuyết, khô khan, chưa gắn liền với thực tiễn. Phương pháp giảng dạy cũng còn đơn điệu, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Cần có sự đổi mới về nội dung và phương pháp để tạo sự hứng thú và yêu thích cho học sinh đối với di sản văn hóa.

III. Cách Đổi Mới Giáo Dục Di Sản Văn Hóa Cho THPT 54 ký tự

Để khắc phục những thách thức trên, cần có những giải pháp đổi mới trong giáo dục di sản văn hóa cho THPT. Một trong những giải pháp quan trọng nhất là tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục di sản, bao gồm cả nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực. Cần có sự đầu tư vào việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, tài liệu và bồi dưỡng giáo viên. Bên cạnh đó, cần có sự đổi mới về nội dung và phương pháp giáo dục di sản. Nội dung cần gắn liền với thực tiễn, phù hợp với lứa tuổi học sinh và có tính tương tác cao. Phương pháp giảng dạy cần đa dạng, sáng tạo, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục di sản.

3.1. Tăng Cường Nguồn Lực và Đầu Tư Cho Giáo Dục Di Sản

Việc đầu tư vào giáo dục di sản cần được xem là một ưu tiên hàng đầu. Nguồn lực tài chính cần được sử dụng hiệu quả để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, tài liệu và bồi dưỡng giáo viên. Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp vào sự phát triển của giáo dục di sản.

3.2. Đổi Mới Nội Dung và Phương Pháp Giáo Dục Di Sản Văn Hóa

Nội dung giáo dục di sản cần được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương và từng đối tượng học sinh. Phương pháp giảng dạy cần sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực, tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào các hoạt động thực tế, trải nghiệm và khám phá di sản.

3.3. Giáo dục trải nghiệm thông qua di sản

Xây dựng chương trình giáo dục kết hợp giữa lý thuyết và thực hành thông qua di sản, giúp học sinh trải nghiệm thực tế tại các di tích lịch sử, bảo tàng. Tăng cường các hoạt động ngoại khóa, tham quan di tích và các buổi nói chuyện chuyên đề về di sản. Khuyến khích học sinh tham gia vào các dự án bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

IV. Hướng Dẫn Tổ Chức Giáo Dục Di Sản Văn Hóa THPT 58 ký tự

Để tổ chức hiệu quả giáo dục di sản văn hóa trong trường THPT, cần có sự chỉ đạo sát sao từ Ban Giám hiệu, sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức đoàn thể và sự tham gia tích cực của giáo viên, học sinh. Các hoạt động giáo dục di sản cần được lồng ghép vào các môn học chính khóa, các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động cộng đồng. Bên cạnh đó, cần có sự đánh giá, kiểm tra thường xuyên để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục di sản.

4.1. Vai Trò Của Ban Giám Hiệu và Tổ Chức Đoàn Thể Trong Trường

Ban Giám hiệu cần đóng vai trò là người định hướng, chỉ đạo và tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục di sản. Các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ cần tích cực tham gia vào việc tổ chức các hoạt động, tạo sân chơi lành mạnh và bổ ích cho học sinh.

4.2. Lồng Ghép Giáo Dục Di Sản Văn Hóa Vào Các Môn Học

Các môn học như Lịch sử, Địa lý, Văn học, Giáo dục công dân là những môn học có nhiều tiềm năng để lồng ghép giáo dục di sản văn hóa. Giáo viên cần chủ động tìm tòi, sáng tạo để đưa các nội dung về di sản vào bài giảng một cách sinh động và hấp dẫn.

V. Kết Luận Về Quản Lý Giáo Dục Di Sản Văn Hóa THPT 59 ký tự

Quản lý giáo dục di sản văn hóa trong trường THPT là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Việc thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cho học sinh. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự quan tâm, đầu tư của các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực của đội ngũ giáo viên và sự tham gia tích cực của học sinh, gia đình và cộng đồng.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Di Sản Với Thế Hệ Trẻ

Giáo dục di sản giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa của dân tộc, từ đó bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước và lòng tự hào dân tộc. Đồng thời, giáo dục di sản còn giúp các em rèn luyện các kỹ năng sống cần thiết, như kỹ năng tư duy, sáng tạo, làm việc nhóm và giao tiếp.

5.2. Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Di Sản Văn Hóa

Để phát triển bền vững giáo dục di sản, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Cần có sự đầu tư vào việc xây dựng cơ sở vật chất, bồi dưỡng giáo viên và phát triển các chương trình giáo dục di sản chất lượng cao. Bên cạnh đó, cần có sự quảng bá, giới thiệu về di sản văn hóa để thu hút sự quan tâm của cộng đồng.

28/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục giá trị di sản văn hóa vật thể cho học sinh các trường thpt thành phố cao bằng tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới DSVH vật thể là những tài sản vô giá không chỉ riêng của một quốc gia nào mà là của toàn nhân loại. Sự mất đi, do bị xuống cấp hay bị tàn phá, của bất cứ cái gì trong số những tài sản quý giá ấy cũng sẽ làm nghèo đi di sản của tất cả mọi người trên thế giới.

Việc quản lý giáo dục giá trị DSVH vật thể đã được các tổ chức, cá nhân và nhiều nước trên thế giới quan tâm từ rất sớm, tiêu biểu như: Các nghiên cứu về quản lý giáo dục giá trị di dản văn hóa Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhận thấy nguy cơ các DSVH vật thể có thể bị hủy diệt, năm 1954 Công ước bảo vệ DSVH trong sự kiện xung đột vũ trang (The convention for protection cultural heritage in event armed conflict) ra đời đã thể hiện sự quan tâm của thế giới đối với vấn đề này. Lời nói đầu của Công ước này đã khẳng định “bảo vệ DSVH là điều rất quan trọng đối với tất cả mọi người trên thế giới và quan trọng là di sản đó phải nhận được sự bảo vệ tầm quốc tế” [10]. Như vậy, đây là lần đầu tiên vấn đề bảo vệ DSVH nói chung đã được đặt ra trên phạm vi thế giới, chủ yếu tập trung vào các tài sản văn hóa bất động như: công trình kiến trúc (monuments of architecture), di chỉ khảo cổ (archaeological sites) rất gần với phạm trù “DSVH vật thể” ngày nay (tangible cultural heritage). Tại Nhật Bản, trước thời kì Minh Trị Duy Tân, hầu hết các tài sản văn hóa được bảo vệ một cách truyền thống bởi tầng lớp quí tộc, hoàng đế phong kiến.

Đến thời kì Minh Trị Duy Tân thì vấn đề này đã được điều chỉnh bằng pháp luật như “Luật bảo vệ miếu thờ và đền thờ cổ” hay “Luật bảo vệ kho báu quốc gia”. Tất cả đều chỉ tập trung vào tài sản văn hóa vật thể. 7 Ở khu vực châu Phi, việc nhận thức và xây dựng Luật bảo vệ DSVH muộn hơn. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi châu Phi là khu vực bị duy trì chế độ thuộc địa lâu nhất trên thế giới.

Phải đến cuối những năm 90 của thế kỉ XIX, các quốc gia Châu Phi mới giành được độc lập. Sau đó các quốc gia này mới có điều kiện quan tâm đến việc bảo vệ DSVH, ví dụ như tại điều 55 (khoản 1) của Hiến pháp năm 1987 của Cộng hòa Ethiopia đã ghi nhận: “công dân Ethiopia có nghĩa vụ bảo vệ và trông coi của cải xã hội. Công dân Ethiopia có nghĩa vụ tham gia cùng nhà nước, cố gắng cùng xã hội bảo vệ, sưu tầm, giữ gìn các vật thể có tầm quan trọng về lịch sử cũng như bảo vệ di sản tự nhiên và trông coi các hiện vật”. Một số nước ở châu Âu và châu Mỹ có những cách nhìn nhận khác về việc bảo tồn DSVH Hà Lan là một quốc gia phát triển ở châu Âu đã từng phê chuẩn và tham gia vào rất nhiều Công ước của UNESCO hay của Hội đồng châu Âu về bảo vệ DSVH như Công ước của UNESCO năm 1972 về bảo vệ văn hóa thế giới; Công ước của Hội đồng châu Âu năm 1985 về bảo vệ di sản kiến trúc Ngoài tổ chức văn hóa thế giới như UNESCO còn có hàng loạt các tổ chức khác như: ICOSMOS (Hội đồng quốc tế về di tích và di chỉ), ICCROM (Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu Bảo tồn và Bảo quản các tài sản văn hóa), ICOM (Hội đồng quốc tế các bảo tàng), AHC (Ủy ban Di sản Australia), World Monuments Fund (Quỹ di tích thế giới),… trong nhiều năm qua đã nỗ lực thiết lập nên hệ thống các nguyên tắc căn bản hoặc đề xuất các thực hành tốt nhất hỗ trợ các quốc gia trên toàn thế giới trong công tác bảo vệ và quản lý di sản vật thể.

Vai trò căn bản nhất của các hiến chương hoặc nguyên tắc công bố liên quan đến di sản của các tổ chức quốc tế này là đưa ra tuyên bố về các nguyên tắc, hướng dẫn cho công tác bảo tồn và quản lý các điểm có giá trị văn hóa. Các văn bản này còn đề cập đến nhiều vấn đề khác như là giá trị của di sản, vấn đề bảo tồn, vấn đề về ý nghĩa di sản và các giai đoạn liên quan tới quá trình lập kế hoạch bảo tồn di sản. Nhiều nguyên tắc thực hành hiệu quả đề xuất bởi các văn bản quốc tế này đã được nhiều quốc gia đưa vào trong các quy định pháp lý hoặc chính sách quản lý di sản của riêng mình. 8 Theo McKercher & du Cros, quản lý và bảo tồn DSVH là việc chăm sóc một cách có hệ thống nhằm gìn giữ giá trị văn hóa của DSVH cho sự hưởng thụ của thế hệ hiện tại và tương lai.

Hiểu một cách đơn giản hơn, bảo vệ và quản lý di sản trong bối cảnh hiện nay là bảo vệ được di sản đó một cách thích hợp, lâu dài và bền vững. Một quan niệm về quản lý DSVH vật thể cũng được đề cập đến trong Hướng dẫn thực hiện Công ước về Di sản Thế giới khẳng định rằng DSVH vật thể là những tài sản vô giá. Hướng dẫn này cũng cung cấp các công cụ mà các quốc gia thành viên cần có trong công tác quản lý di sản nói chung, và DSVH vật thể thế giới nói riêng, bao gồm: Công cụ pháp lý cho việc bảo vệ, xác lập ranh giới bảo vệ hiệu quả, vùng đệm, các hệ thống quản lý và sử dụng bền vững. “Bối cảnh, nhận thức và quá trình quản lý giáo dục giá trị di dản văn hóa vật thể” (2004) của Trưởng ban di sản phi vật thể, Văn phòng UNESCO.

Công trình đã nhìn nhận lại quá trình kể từ khi các chuyên gia quản lý văn hóa trên thế giới bắt đầu quan tâm đến văn hóa vật thể. Nó cũng chỉ ra được sự cấp thiết của việc quản lý giáo dục giá trị di dản văn hóa vật thể ở các cộng đồng, đồng thời nêu rõ những khó khăn và thách thức trong việc thực hiện. Từ đó, công trình đưa ra diễn giải cụ thể từng điều mục để các quốc gia, các cộng đồng không gặp phải vướng mắc trong quá trình thực hiện. Janelli (Đại học Indiana, Mỹ) đã tổng kết hội thảo Yamato (Nara, Nhật Bản, 2004) trong tham luận “Sự kết nối những phạm trù vật thể trong quản lý giáo dục DSVH” bằng một cách tiếp cận hợp nhất.

Như vậy, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục giá trị DSVH cho học sinh. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình riêng biệt nào đề cập đến việc quản lý giáo dục giá trị di dản văn hóa vật thể cho học sinh THPT, đây là khoảng trống nghiên cứu cần được san đầy như một đóng góp cho thực tiễn và cả lý thuyết về quản lý giáo dục giá trị DSVH vật thể cho học sinh THPT. Ở Việt Nam Thực tế cho thấy, tất cả các đề tài, công trình nghiên cứu về giá trị DSVH vật thể mới chỉ tập trung chủ yếu vào việc khẳng định giá trị DSVH vật thể như là là một nguồn lực quý giá của quốc gia. Trước đây, khi nghiên cứu các tài liệu trong Đại việt sử kí toàn thư cũng có thể thấy, các vị vua phong kiến xưa cũng đã ý thức được việc phải quản lý các DSVH vật thể.

Đặc biệt là các công trình kiến trúc tôn giáo thể hiện sự tôn nghiêm, uy quyền của thần thánh, của nhà vua, được xây dựng với công sức đóng góp của toàn dân. Trong nghiên cứu về vấn đề quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH ở nước ta, tác giả Nguyễn Quốc Hùng khẳng định rằng DSVH vật thể ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước. Nhiều di sản đã trở thành bài học vô giá trong việc giáo dục và quản lý di sản ở nước ta. Bài viết của Nguyễn Thị Chiến “Quản lý và khai thác DSVH trong thời kỳ hội nhập” đăng trên Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 02 (2004) cũng đề cập tới việc khai thác và quản lý DSVH như là một tài nguyên quốc gia.

Cùng nhận định tương tự, nghiên cứu của Trương Quốc Bình cũng nhấn mạnh đến vai trò quản lý các DSVH với sự phát triển đất nước. Cuốn “Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội” đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn kinh nghiệm quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những quan điểm mới về quản lý di sản một số nước trên thế giới để vận dụng vào công tác quản lý, bảo tồn, phát huy các giá tr ị di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội; xuất phát từ thực trạng DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội làm rõ giá trị của nó trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở chỉ ra những nguy cơ, thách thức của công cuộc bảo tồn DSVH, cuốn sách đã đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội. Chu Thái Thành trong bài “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” khẳng định từ xưa đến nay, bản sắc văn hóa dân tộc đã làm nên sức sống mãnh 10 liệt, giúp cộng đồng người Việt Nam vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt của lịch sử để không ngừng phát triển và lớn mạnh.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên tối đa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả Ngô Phương Thảo trong bài “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ những góc nhìn” đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ DSVH hiện nay. Theo tác giả thì “Mỗi ngày, DSVH càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ