Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên THPT huyện Đầm Dơi, Cà Mau (Luận văn)

Tải luận văn phân tích thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên THPT. Đánh giá và đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả cho các trường học.

Chuyên ngành

Quản lí giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

119
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên THPT

Quản lý đội ngũ giáo viên THPT là một hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng, Ban Giám hiệu) đến tập thể giáo viên nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ vững mạnh, đáp ứng mục tiêu giáo dục. Theo Luật Giáo dục (2009), nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Do đó, công tác quản lý giáo viên không chỉ là hoạt động hành chính mà còn là nghệ thuật sử dụng và phát huy tối đa tiềm năng của con người. Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, như Chỉ thị số 40/CT-TW, đã nhấn mạnh mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo được chuẩn hóa, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và vững vàng về bản lĩnh chính trị. Cơ sở lý luận về quản lý xác định rằng, để quản lý hiệu quả, cần phải thực hiện đồng bộ các chức năng: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, vai trò của việc phát triển đội ngũ nhà giáo càng trở nên cấp thiết. Hoạt động này bao gồm từ tuyển dụng, phân công chuyên môn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đến việc thực hiện chế độ chính sách cho giáo viêntạo động lực làm việc cho giáo viên. Một hệ thống quản lý nhân sự ngành giáo dục hiệu quả sẽ là đòn bẩy để nâng cao chất lượng giáo viên, từ đó trực tiếp nâng cao chất lượng dạy và học tại các trường trung học phổ thông công lập.

1.1. Khái niệm cốt lõi trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên

Để hiểu rõ bản chất vấn đề, cần làm rõ các khái niệm cơ bản. Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm đạt mục tiêu đề ra. Trong phạm vi vi mô, quản lý nhà trường là việc tổ chức, điều khiển các hoạt động của một đơn vị giáo dục cụ thể. Trọng tâm của quản lý nhà trường là quản lý đội ngũ giáo viên – tập hợp những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng thống nhất. Quản lý đội ngũ giáo viên THPT bao gồm các nội dung chính: quản lý về số lượng và cơ cấu, đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp, lên kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, và thực thi các chính sách đãi ngộ.

1.2. Vai trò quyết định của nhà giáo đối với chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng đội ngũ nhà giáo luôn là nhân tố then chốt và quyết định. Nghị quyết Đại hội Đảng XI xác định “phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” trong công cuộc đổi mới. Người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn là tấm gương về đạo đức, nhân cách, định hướng giá trị cho học sinh. Vì vậy, đầu tư cho việc phát triển đội ngũ nhà giáo chính là đầu tư cho tương lai. Một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, tâm huyết với nghề, vững vàng về tư tưởng sẽ tạo ra một thế hệ học sinh có đủ năng lực và phẩm chất để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

II. Phân tích thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên THPT hiện nay

Nghiên cứu thực tiễn tại các trường THPT, điển hình như tại huyện Đầm Dơi (Cà Mau), đã phác họa một bức tranh tổng thể về thực trạng và giải pháp trong công tác quản lý giáo viên. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác này vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Về mặt tích cực, số lượng giáo viên ở nhiều trường cơ bản đáp ứng tỷ lệ chuẩn (khoảng 2.25 - 2.3 giáo viên/lớp), và đa số có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề. Tuy nhiên, các khó khăn trong công tác quản lý bộc lộ rõ ở sự mất cân đối về cơ cấu, trình độ chuyên môn chưa đồng đều và năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới còn hạn chế. Phân tích sâu hơn cho thấy, việc xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu thực tế của giáo viên và nhà trường. Hoạt động đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tuy đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao, chưa tạo ra động lực thực sự cho sự phấn đấu. Những hạn chế này đòi hỏi các nhà quản lý, đặc biệt là vai trò của hiệu trưởng quản lý giáo viên, cần có những giải pháp đột phá và quyết liệt hơn để nâng cao chất lượng giáo viên, đáp ứng yêu cầu từ Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

2.1. Thực trạng về số lượng và cơ cấu đội ngũ nhà giáo các trường

Khảo sát tại 3 trường THPT huyện Đầm Dơi cho thấy, tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 2.3, đảm bảo đủ về số lượng chung. Tuy nhiên, cơ cấu lại bộc lộ nhiều điểm mất cân đối. Về độ tuổi, đội ngũ giáo viên khá trẻ, với 57% ở độ tuổi 31-40 và 32% dưới 30 tuổi. Đây là lợi thế về sự năng động, nhiệt huyết nhưng cũng là thách thức về kinh nghiệm giảng dạy. Về cơ cấu bộ môn, tình trạng thừa-thiếu cục bộ diễn ra phổ biến. Các môn như Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh thường dư nhiều giáo viên, trong khi các môn như Công nghệ, Giáo dục quốc phòng lại thiếu hụt, dẫn đến việc giáo viên phải dạy chéo môn, ảnh hưởng đến chất lượng. Sự mất cân đối này cho thấy công tác quy hoạch, tuyển dụng và phân công chuyên môn cần được xem xét và điều chỉnh một cách khoa học hơn.

2.2. Đánh giá trình độ đào tạo và năng lực đáp ứng yêu cầu mới

Theo thống kê, 100% giáo viên tại khu vực khảo sát đạt chuẩn trình độ đào tạo. Tuy nhiên, tỷ lệ trên chuẩn còn rất thấp, chỉ chiếm 3.94% (6/152 giáo viên có trình độ Thạc sĩ). Điều này phản ánh một thách thức lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo viên. Bên cạnh đó, năng lực về ngoại ngữ và tin học, hai công cụ thiết yếu trong thời đại số, còn nhiều hạn chế. Đa số giáo viên chỉ có chứng chỉ tin học trình độ A (77%) và trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tài liệu quốc tế. Năng lực tự học, tự nghiên cứu và ứng dụng phương pháp dạy học hiện đại của một bộ phận giáo viên còn yếu, gây cản trở cho việc triển khai hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

III. Phương pháp đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp hiệu quả

Đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý nhân sự ngành giáo dục, là cơ sở để quy hoạch, đào tạo và đãi ngộ. Việc đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp được quy định tại Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT (nay được thay thế bởi Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT) là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, để hoạt động này thực sự hiệu quả, cần tránh sự hình thức, nể nang. Quá trình đánh giá phải dựa trên minh chứng cụ thể, đa chiều, kết hợp giữa tự đánh giá của giáo viên, đánh giá của tổ chuyên môn và đánh giá của lãnh đạo nhà trường. Vai trò của người hiệu trưởng quản lý giáo viên là then chốt trong việc xây dựng một môi trường đánh giá công bằng, khách quan và mang tính xây dựng. Kết quả đánh giá phải được sử dụng làm căn cứ chính cho việc xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, và đặc biệt là trong công tác thi đua khen thưởng và kỷ luật. Khi việc đánh giá gắn liền với quyền lợi và lộ trình phát triển, nó sẽ trở thành một công cụ mạnh mẽ để tạo động lực làm việc cho giáo viên và thúc đẩy toàn đội ngũ cùng tiến bộ.

3.1. Các tiêu chí cốt lõi trong bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT bao gồm các tiêu chuẩn cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực xây dựng môi trường giáo dục; năng lực phát triển quan hệ xã hội và năng lực ngoại ngữ, tin học. Cụ thể, giáo viên cần nắm vững kiến thức môn học, có khả năng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, biết cách kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo viên một cách toàn diện, không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn mẫu mực về đạo đức và tác phong.

3.2. Vai trò của hiệu trưởng trong việc tổ chức đánh giá khách quan

Hiệu trưởng đóng vai trò là người chỉ đạo, tổ chức và chịu trách nhiệm cuối cùng về tính khách quan, công bằng của hoạt động đánh giá trong nhà trường. Hiệu trưởng quản lý giáo viên thông qua việc xây dựng các quy chế đánh giá cụ thể, thành lập hội đồng đánh giá, và quan trọng nhất là tạo ra một văn hóa tin cậy để giáo viên không ngại nhìn thẳng vào điểm mạnh, điểm yếu của mình. Hiệu trưởng cũng là người đưa ra quyết định cuối cùng dựa trên các minh chứng thu thập được, đảm bảo kết quả phản ánh đúng năng lực và sự cống hiến của mỗi cá nhân.

IV. Bí quyết xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ nhà giáo tối ưu

Từ kết quả đánh giá thực trạng, việc xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên trở thành nhiệm vụ chiến lược của mỗi nhà trường. Một kế hoạch hiệu quả phải mang tính dài hạn, toàn diện và khả thi. Nó không chỉ tập trung vào việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải chú trọng đến việc nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và các kỹ năng mềm. Kế hoạch này cần được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa nhu cầu phát triển của nhà trường, định hướng của ngành và nguyện vọng của từng giáo viên. Việc quản lý giáo viên theo định hướng phát triển năng lực đòi hỏi mỗi cá nhân phải có lộ trình phát triển riêng, được nhà trường hỗ trợ và tạo điều kiện. Bên cạnh đó, một yếu tố không thể thiếu để kế hoạch thành công là việc đảm bảo chế độ chính sách cho giáo viên. Khi đời sống được đảm bảo, giáo viên mới có thể toàn tâm toàn ý cho việc học tập, nâng cao trình độ và cống hiến cho sự nghiệp giáo dục. Đây là cách tiếp cận bền vững để phát triển đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn mới.

4.1. Xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

Nhu cầu bồi dưỡng phải xuất phát từ ba nguồn: nhu cầu của địa phương về nguồn nhân lực, nhu cầu của nhà trường để thực hiện mục tiêu chiến lược, và nhu cầu tự thân của giáo viên để hoàn thiện bản thân. Nhà trường cần tiến hành khảo sát, phân tích kết quả đánh giá hàng năm, và đối chiếu với các yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 để xác định các nội dung bồi dưỡng ưu tiên. Các hình thức bồi dưỡng cần đa dạng, từ các khóa tập huấn tập trung, sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, đến khuyến khích tự học và chia sẻ kinh nghiệm.

4.2. Tầm quan trọng của chế độ chính sách trong việc giữ chân nhân tài

Một kế hoạch phát triển dù tốt đến đâu cũng sẽ thất bại nếu không đi kèm với các chế độ chính sách cho giáo viên hợp lý. Lương, thưởng, phụ cấp và các chính sách đãi ngộ khác là sự ghi nhận vật chất cho những nỗ lực của nhà giáo. Ngoài ra, các chính sách phi vật chất như tạo môi trường làm việc dân chủ, tôn trọng, cơ hội thăng tiến công bằng, và sự vinh danh kịp thời cũng là những yếu tố quan trọng giúp tạo động lực làm việc cho giáo viên, giữ chân những người tài năng và thu hút nhân lực chất lượng cao về với nhà trường.

V. Top giải pháp đột phá trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên

Để khắc phục những khó khăn trong công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động, các nhà quản lý giáo dục cần áp dụng đồng bộ các giải pháp mang tính đột phá. Trước hết, cần tối ưu hóa công tác tuyển dụng và sử dụng nhân sự, đảm bảo tuyển đúng người, dùng đúng việc, khắc phục tình trạng thừa thiếu cục bộ. Việc phân công chuyên môn phải dựa trên năng lực, sở trường và có tính đến sự phát triển cân đối của các tổ bộ môn. Thứ hai, chìa khóa để tạo động lực làm việc cho giáo viên nằm ở việc xây dựng một môi trường sư phạm thân thiện, dân chủ và hợp tác. Khi giáo viên cảm thấy được tôn trọng, được lắng nghe và được hỗ trợ, họ sẽ tự giác cống hiến và sáng tạo. Cuối cùng, cần đổi mới mạnh mẽ vai trò của người hiệu trưởng. Hiệu trưởng quản lý giáo viên không phải với tư cách một nhà cai trị, mà là một người lãnh đạo, một người truyền cảm hứng, dẫn dắt và đồng hành cùng đội ngũ trong quá trình phát triển đội ngũ nhà giáo. Đây là những giải pháp cốt lõi để xây dựng một đội ngũ giáo viên mạnh, đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục hiện đại.

5.1. Tối ưu hóa phân công chuyên môn và quy hoạch nhân sự

Dựa trên thực trạng đội ngũ, hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch nhân sự trung và dài hạn, dự báo nhu cầu giáo viên cho từng bộ môn để có kế hoạch tuyển dụng hoặc đề xuất luân chuyển hợp lý. Việc phân công chuyên môn cần linh hoạt, có thể khuyến khích giáo viên bồi dưỡng thêm chuyên môn thứ hai để đáp ứng các môn học tích hợp hoặc giải quyết tình trạng thiếu giáo viên tạm thời. Quy hoạch cán bộ nguồn cần được thực hiện sớm và bài bản, tạo cơ hội cho những giáo viên có năng lực được thử sức ở các vị trí quản lý.

5.2. Xây dựng môi trường sư phạm dân chủ để tạo động lực làm việc

Môi trường làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và hiệu suất công việc. Một môi trường sư phạm tích cực được xây dựng trên nền tảng của sự dân chủ, công khai, minh bạch trong mọi hoạt động, từ phân công chuyên môn, đánh giá, đến thi đua khen thưởng và kỷ luật. Khuyến khích sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên, giữa các tổ chuyên môn sẽ tạo ra sức mạnh tập thể, giúp mọi người cùng nhau vượt qua khó khăn và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đây là cách hiệu quả để tạo động lực làm việc cho giáo viên.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV;chú trọng và tạo mọi điều kiện để ĐNGV được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tạo cơ hội cho ĐNGV học tập với nhiều hình thức đa dạng nhằm bổ sung những kiến thức mới phục vụ tốt công tác đổi mới phương pháp giảng dạy, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia.

Báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã khẳng định “vai trò quyết định của người thầy giáo trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hóa”; khẳng định “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với CL giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển ĐNGV cả về SL và CL”. Ở Pháp, việc tuyển dụng GV phải thông qua quy trình thi tuyển chặt chẽ. Nhà nước cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ của GV các cơ sở giáo dục tư thục cùng với mức và giới hạn áp dụng đối với GV các trường công lập.

Về chế độ ưu đãi GV, Luật giáo dục Cộng hòa Pháp có quy định: GV chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lương chính của GV trung học và tương đương, ngoài lương theo văn bằng còn có lương theo cấp bậc và trợ cấp bù giá (theo Ths.Đặng Thị Thu Huyền, Tạp chí Giáo dục số 167- 7/2007). Ở Nhật Bản việc đào tạo và bồi dưỡng lại ĐNGV, CBQL giáo dục là nhiệm vụ bắc buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi đơn vị giáo dục cử từ 3 đế 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung vào đổi mới 7 phương pháp giáo dục.

Ở Việt Nam Dân tộc Việt Nam có quá trình phát triển lâu dài với hơn bốn ngàn năm lịch sử. Người Việt Nam từ ngàn xưa đã có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, hình ảnh của người thầy giáo luôn là hình ảnh đẹp cho các thế hệ HS noi theo. Những câu nói “Không thầy đố mày làm nên”, “Không có thầy giáo thì không có trường học”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, đã khẳng định vai trò vị trí người thầy trong mọi thời đại. Phẩm chất và năng lực của người thầy là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định CL giảng dạy và định hướng nhân cách cho HS.

Trong bức thư gửi cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, HS, sinh viên vào năm học mới ngày 15 tháng 10 năm 1968, Bác Hồ viết : “Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầyđủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” [24]. Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương, chính sách về GD & ĐT trong đó chú trọng đến vấn đề phát triển và quản lý đội ngũ nhà giáo và xem đây là khâu then chốt trong quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục.

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ nêu rõ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về SL, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về CL đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao CL và hiệu quả giáo dục”. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ nêu rõ: “Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 60% giáo viên mầm non, 100% GV tiểu học, 88% GV trung học cơ sở và 16,6% GV THPT đạt trình độ đào tạo trên chuẩn; 38,5% GV trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ” [7]. Căn cứ vào những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về nhà 8 giáo, nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và nâng cao ĐNGV đã được các tác giả thực hiện trong thời gian qua như: Lê Thị Lan Phương: “Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học tỉnh Phú Thọ”, Năm 2001. Đoàn Thị Bẩy: “Quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Thực trạng và giải pháp”, Năm 2003. Nguyễn Thị Hồng Hoa: “Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh và một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý đó”, Năm 2005. Phạm Quang Huỳnh: “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng cộng đồng Cà Mau”, Năm 2009. Các đề tài nêu trên đã khai thác nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề liên quan đến công tác quản lý ĐNGV ở các cơ sở giáo dục.

Tuy nhiên công tác nghiên cứu về quản lý ĐNGV THPT chưa nhiều. Đặc biệt đối với tỉnh Cà Mau vấn đề đưa ra các biện pháp quản lý có hiệu quả ĐNGV THPT huyện Đầm Dơi nhằm mục tiêu xây dựng, phát triển và quản lý đội ngũ này tốt hơn vẫn còn nhiều bất cập cần khắc phục. Một số khái niệm Việc nghiên cứu đề tài khoa học, trước tiên cần tìm hiểu và làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ, khái niệm cơ bản như: 1. Quản lý Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) thì: Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.

Hoạt động quản lý có lịch sử phát triển khá lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Ngay từ khi con người có ý thức về quá trình tập hợp lại với nhau tạo ra sức mạnh để tự vệ, kiếm sống thì lao động chung của mọi người đã manh nha những hoạt động mang tính tổ chức, phối hợp và điều khiển. Có 3 yếu tố cơ bản chi phối sự phát triển của xã hội loài người bao gồm: nền tảng tri thức, sức lao động và quản lý. Trong đó, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với sức lao động.

9 Nói về quản lý, các nhà lý luận dựa vào những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra nhiều khái niệm như : F.W Taylor cho rằng : quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Sephan Robbins quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo nghiên cứu từ góc độ xã hội thì quản lý “là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” Tác giả Nguyễn Ngọc Quang xác định, quản lý “là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” Theo từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa, 2001), quản lý là: hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó” Qua các khái niệm nêu trên, có thể xác định: - Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức. - Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức.

- Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố cơ 10 bản của hệ thống xã hội. - Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. - Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.

- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. - Quản lý là một hệ thống mở và bản chất của nó là phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Tóm lại, quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả cao bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì chỉ có trong xã hội loài người giáo dục mới nảy sinh, phát triển và tồn tại vĩnh hằng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ