CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM THUC TIEN VE QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan về khu công nghiệp 1.1 Khái niệm, phân loại khu công nghiệp Khu công nghiệp là một lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có những điều kiện tương ứng với phát triển công nghiệp về tự nhiên, cơ sở hạ tầng, Quản lý nhà nước, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ có liên quan đến hoạt động công nghiệp Tùytheo góc độ tiếp cin, KCN có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: - Theo tinh chất ngành nghề, KCN được chia thành các loại sau: KCN chuyên ngành, KCN đa ngành, KCN sinh thái, KCN đô thị, KCN đô thị - công nghệ cao ~_ Dựa vào đặc điểm của KCN, người ta chia KCN thành: KCN tập trung, KCN chế xuất, Khu công nghệ cao, Cụm công nghiệp ~ _ Theo đặc điểm và cấp Quản lý : KCN gồm 3 loại: KCN do chính phủ quyết định thành lập, KCN do UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập, KCN do UBND huyện, thị quyết định thành lập 1.2 Đặc điểm, vai trò KCN - KCN là nơi tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng lớn nguyên, nhiên liệu, năng lượng và thải ra lượng chất thải không 16. - KCN còn đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng. - - KCN thuong dugc xay dung 6 nhting noi co vi tri dia ly thuan lợi. - - KCN su dung lugng lao động lớn.
Vai tro cua KCN: 10 Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nên kinh tế KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu tư trên một vùng không gian lãnh thé do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước. Với quy chê Quản lý thống nhất và các chính sách ưu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài; hơn nữa việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược kinh doanh của các tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ưu đãi thuê quan từ phía nước chủ nhà, tiết kiệm chỉ phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trường mới ở các nước đang phát triển. Tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển nguôn nhân lực Xây dựng và phát triển KCN đã thu hút một lượng lớn lao động vào làm việc tại các KCN và đã có tác động tích cực tới việc xóa đói giảm nghẻo và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cư đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên. Thúc đây việc hiện đại hóa hệ thông kết cấu hạ tầng và là hạt nhân hình thành đô thị mới Xây dựng và phát triển các KCN trong phạm vi từng tỉnh, thành phó, vùng kinh tế và quốc gia là hạt nhân thúc đây nhanh tốc độ đô thị hóa và hiện đại hóa kết cầu hạ tầng trong và ngoài KCN tại các địa phương.
Phát triển KCN góp phân bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Do vậy để một doanh nghiệp đơn lẻ xây dựng các công trình xử lý chất thải rất tốn kém, khó có thể đảm bảo được chất lượng nhất là trong điều kiện hiện nay ở nước ta phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ. II Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu và giảm chỉ ngoại tệ và góp phân tăng nguồn thu ngân sách Sự phát triển các KCN có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Hàng hóa sản xuất ra từ các KCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tông số lượng hàng hóa xuất khâu cua địa phương và của cả nước.
Khi các KCN mới bắt đầu đi vào hoạt động, lúc này nguồn thu ngoại tệ của các KCN chưa đảm bảo vì các doanh nghiệp phải dùng số ngoại tệ thu được để nhập khẩu công nghệ, dây chuyền, máy móc thiết bị. nhưng cái lợi thu được là nhập khâu nhưng không mất ngoại tệ. Khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất ôn định, có hiệu quả thì lúc đó nguồn thu ngoại tệ bắt đầu tăng lên nhờ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN. Tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiễn, phương pháp Quản lý hiện đại và kích thích sự phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp frong nước Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước trên thế giới cho thấy việc áp dụng tiễn bộ khoa học công nghệ tiên tiễn của các nước đi trước là một trong những bí quyết để phát triển và đây nhanh quá trình công nghiệp hóa.
Việc tiếp cận và vận dụng linh hoạt kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia là một trong những giải pháp mà các nước đang phát triển áp dụng nhằm rút ngắn thời gian của quá trình công nghiệp hóa. Cùng với sự hoạt động của các KCN một lượng không nhỏ các kỹ thuật công nghệ tiên tiến, dây chuyền sản xuất đồng bộ, kỹ năng Quản lý hiện đại.đã được chuyển giao và áp dụng thành công trong các ngành công nghiệp; Việc chuyên giao công nghệ của khu vực FDI tới các doanh nghiệp trong nước đã góp phần thúc đây vào việc tăng năng suất, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong các ngành công nghiệp. KCN thúc đây sự phát triển năng lực khoa học công nghệ góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới, công nghệ mới, sản phâm mới, phương thức sản xuất, kinh doanh mới. giúp cho nền kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng kinh 12 tế thị trường hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế và phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH của quốc gia.3 Các nhân tô ảnh hưởng đến sự phát triển KCN 1.
Quy hoạch Khu công nghiệp Quy hoạch là công cụ rất quan trọng, nó định hướng dài hạn và đảm bảo sự đồng bộ trong phát triển dài hạn. Xây dựng quy hoạch và thực hiện tốt quy hoạch sẽ khắc phục được tình trạng lộn xộn, tự phát, tùy tiện, chap va, lang phi trong quá trình phát triển do phải khắc phục hậu quả và làm đi làm lại nhiều lần. Quy hoạch lại là cơ sở để xây dựng kế hoạch, do vậy cần phải xây dựng quy hoạch có tính khả thi và chất lượng cao, đảm bảo khả năng pháp triển dài hạn trong tương lai. Bản chất của khu công nghiệp chính là tổ chức sản xuất công nghiệp trên lãnh thô được thực hiện gắn liền với quá trình tăng cường tích tụ, tập trung sản xuất theo lãnh thổ.
Do vậy quy hoạch khu công nghiệp cần gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp và cũng là một bộ phận trong hệ thống các qui hoạch ngành và lĩnh vực trên vùng lãnh thổ. Thực chất của việc xây dựng qui hoạch phát triển khu công nghiệp đó là luận chứng phát triển và tổ chức lãnh thé sản xuất công nghiệp. Quy hoạch phát triển khu công nghiệp phải tính đến các quan hệ liên ngành và liên vùng theo tỉnh thần phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các vùng và các ngành kinh tế. Quy hoạch phải đánh giá đúng các nguồn lực và lợi thế của vùng: xác định có luận cứ khoa học định hướng phát triển công nghiệp trên vùng lãnh thổ và khu công nghiệpkhu công nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, khai thác có hiệu quả và lợi thế của vùng lãnh thổ.
Quy hoạch cần được kịp thời điều chỉnh phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện phát triển. Quy hoạch phát triển khu công nghiệp là sự cụ thê hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và chiến lược phát triển công nghiệp của đất nước, là căn cứ quan trọng để xây dựng các giải pháp chính sách phù hợp với 13 điều kiện từng vùng lãnh thổ. Như vậy khi phát triển KCN cần quan tâm đến quy hoạch ngành công nghiệp, quy hoạch lãnh thổ và gắn với quy hoạch quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương.Quy hoạch phát triển khu công nghiệp cần phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương, nhằm đảm bảo sự phát triển của khu công nghiệp đúng định hướng và mục tiêu phát triển của địa phương trong từng giai đoạn. Việc lựa chọn địa điểm xây dựng các khu công nghiệp đồng bộ phải phù hợp và có sự ăn khớp, thống nhất giữa quy hoạch tổng thể với quy hoạch ngành công nghiệp, quy hoạch các vùng; giữa quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương với quy hoạch nông thôn, đô thị cũng như quy hoạch mạng lưới giao thông vận tải, quy hoạch khu dân cư; giữa quy hoạch KCN với quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch sử dụng đất.
Quy hoạch và phân bố KCN hợp lý sẽ khai thác triệt để lợi thế so sánh và đặc thù của từng vùng lãnh thổ; phát huy sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có của địa phương đồng thời đảm bảo được tính đồng đều, hợp lý của toàn ngành công nghiệp trong phạm vi quốc gia hoặc liên vùng. Việc phát triển các KCN phù hợp với quy hoạch sẽ thúc đầy các vùng phát huy được lợi thế của mình để phát triển theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với thị trường trong và ngoài nước; các vùng kinh tế trọng điểm phát huy được vai trò đầu tàu phát triển nhanh theo hướng chuyển dần sang các ngành công nghiệp mũi nhọn, các ngành công nghiệp với công nghệ và kỹ thuật cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao để lôi kéo các vùng khác phát triển theo như: - Đối với các vùng có lợi thế trữ về lượng khoáng sản dồi dào có thé phat triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản; - Đối với các vùng có nhiều cây công nghiệp và rừng trồng nguyên liệu có thể phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản như giấy, chè, đồ mộc, thực phẩm, đồ uống.