Tài liệu: Luận văn quản lý công sự tham gia của người dân trong hoạt động

Nghiên cứu vai trò người dân trong quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia cộng đồng.

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn quản lý công về rác thải sinh hoạt huyện Đất Đỏ

Hoạt động quản lý công đối với chất thải tại địa phương đóng vai trò then chốt trong việc duy trì mỹ quan và sức khỏe cộng đồng. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, kéo theo lượng chất thải rắn sinh hoạt gia tăng không ngừng. Theo báo cáo, mỗi ngày toàn tỉnh phát sinh hơn 600 tấn rác thải sinh hoạt. Riêng tại địa bàn nghiên cứu, UBND huyện Đất Đỏ đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu phát triển đô thị hiện đại giai đoạn 2015-2025. Việc quản lý hiệu quả nguồn thải không chỉ là nhiệm vụ của chính quyền mà còn đòi hỏi sự tham gia của cộng đồng một cách chủ động. Hệ thống dịch vụ công ích cần được kiện toàn để đáp ứng nhu cầu thu gom rác thải trung bình 45 tấn/ngày tại 08 xã và thị trấn. Mục tiêu trọng tâm là hướng tới sự phát triển bền vững, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường nông thôn và đô thị. Chính quyền cần áp dụng các mô hình quản lý môi trường cấp huyện tiên tiến để giải quyết bài toán ô nhiễm. Sự phối hợp giữa các bên liên quan sẽ tạo ra nền tảng vững chắc cho công tác bảo vệ môi trường lâu dài.

1.1. Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại tỉnh đang tăng nhanh do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Sự đa dạng về thành phần rác thải từ y tế, nông nghiệp đến sinh hoạt gây áp lực lớn lên hệ thống xử lý chất thải. Việc thu gom hiện nay vẫn chưa triệt để, dẫn đến nguy cơ tồn dư rác thải ngoài môi trường cao.

1.2. Vai trò của UBND huyện Đất Đỏ trong bảo vệ môi trường

UBND huyện Đất Đỏ đóng vai trò định hướng và phê duyệt các chương trình phát triển đô thị. Cơ quan này chịu trách nhiệm điều phối nguồn lực, đầu tư trang thiết bị và giám sát các đơn vị thực hiện dịch vụ công ích. Chính quyền cấp huyện là cầu nối quan trọng giữa chính sách công và thực tiễn đời sống người dân.

II. Top 3 thách thức quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay

Quá trình thực hiện quản lý môi trường cấp huyện tại Đất Đỏ đang đối mặt với nhiều rào cản lớn. Thứ nhất, ý thức người dân về việc giữ gìn vệ sinh chung còn hạn chế, dẫn đến tình trạng vứt rác bừa bãi. Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật phục vụ thu gom và vận chuyển rác chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Hiện tại, huyện chỉ có 3 xe ép rác chuyên dụng và đội ngũ nhân công mỏng với 5 người. Thứ ba, việc phân loại rác tại nguồn chưa được triển khai đồng bộ, chủ yếu mang tính tự phát. Nhiều hộ gia đình vẫn giữ thói quen tự xử lý rác bằng cách đốt hoặc chôn lấp thủ công. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn trong tương lai. Ngoài ra, mức phí vệ sinh hiện tại chưa đủ bù đắp chi phí vận hành cho các đơn vị thu gom. Sự thiếu hụt về tài chính ngân sách khiến việc nâng cấp công nghệ xử lý chất thải gặp nhiều trở ngại. Nếu không có giải pháp quyết liệt, các bãi rác tạm sẽ sớm quá tải, gây ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm tại địa phương.

2.1. Ý thức người dân trong phân loại rác tại nguồn còn thấp

Phần lớn người dân chưa hiểu rõ bản chất và lợi ích của việc phân loại rác tại nguồn. Hoạt động này chủ yếu dừng lại ở việc gom chai lọ nhựa để bán phế liệu. Tỷ lệ hộ gia đình thực hiện phân loại rác hữu cơ và vô cơ đúng quy cách vẫn còn rất khiêm tốn.

2.2. Khó khăn trong thu gom và vận chuyển rác vùng nông thôn

Địa bàn dân cư phân bố rải rác khiến công tác thu gom và vận chuyển rác gặp nhiều trở ngại. Các tuyến đường nông thôn nhỏ hẹp làm xe chuyên dụng khó tiếp cận. Điều này dẫn đến tình trạng rác ứ đọng, gây mùi hôi thối và mất mỹ quan tại các khu vực xa trung tâm.

III. Phương pháp nâng cao sự tham gia của cộng đồng bền vững

Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng, cần áp dụng các phương pháp tác động đa chiều. Đầu tiên là nâng cao nhận thức thông qua các chương trình giáo dục về bảo vệ môi trường. Người dân cần được trao quyền để tham gia vào quá trình ra quyết định và giám sát hoạt động dịch vụ công ích. Theo thang đo của Sherry Arnstein, mức độ tham gia cần chuyển từ thụ động sang chủ động quản lý. Thứ hai, cần xây dựng các nhóm tự quản tại khu phố và ấp để đôn đốc việc thu gom và vận chuyển rác. Vai trò của tổ trưởng dân phố và các đoàn thể xã hội là cực kỳ quan trọng trong việc vận động nhân dân. Thứ ba, minh bạch hóa việc đóng phí vệ sinh môi trường để tạo niềm tin. Khi người dân thấy được lợi ích thiết thực, họ sẽ sẵn sàng đóng góp kinh phí và công sức. Việc xã hội hóa công tác môi trường sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, cần có cơ chế khen thưởng kịp thời cho các cá nhân, tổ chức có sáng kiến xuất sắc trong quản lý rác thải. Sự đồng lòng của người dân là chìa khóa để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững tại huyện Đất Đỏ.

3.1. Hình thức tham gia trực tiếp vào quy trình xử lý rác thải

Người dân tham gia trực tiếp thông qua việc phân loại rác tại nguồn và bỏ rác đúng giờ, đúng nơi quy định. Các hoạt động như quét dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm định kỳ cũng là biểu hiện rõ nét của sự tham gia của cộng đồng trong việc giữ gìn môi trường sống.

3.2. Cơ chế giám sát và đóng phí vệ sinh môi trường minh bạch

Việc đóng phí vệ sinh là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi công dân để duy trì dịch vụ công ích. Người dân có quyền giám sát chất lượng dịch vụ của đơn vị thu gom. Sự minh bạch trong quản lý tài chính sẽ khuyến khích cộng đồng tự nguyện đóng góp cao hơn mức quy định tối thiểu.

IV. Bí quyết xã hội hóa công tác môi trường tại huyện Đất Đỏ

Thực hiện xã hội hóa công tác môi trường là hướng đi tất yếu để tối ưu hóa nguồn lực xã hội. Chính quyền cần khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ thu gom và vận chuyển rác. Việc đấu thầu công khai sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm chi phí xử lý. Chính sách công cần linh hoạt để hỗ trợ các đơn vị xã hội hóa về mặt pháp lý và hạ tầng. Tại Đất Đỏ, mô hình phối hợp giữa Công ty Công trình đô thị và các tổ đội dân lập bước đầu cho thấy hiệu quả. Tuy nhiên, cần có quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt để đảm bảo rác được vận chuyển về đúng khu xử lý chất thải tập trung tại Tóc Tiên. Bên cạnh đó, việc ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn thông qua tái chế rác thải sẽ tạo ra nguồn thu mới. Các cơ sở thu mua phế liệu cần được quản lý và hỗ trợ để trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị môi trường. Tăng cường tuyên truyền để thay đổi thói quen xả rác bừa bãi là nền tảng của mọi giải pháp xã hội hóa. Khi cộng đồng nhận thức được rác thải là tài nguyên, công tác bảo vệ môi trường sẽ trở nên tự giác và bền vững hơn.

4.1. Chính sách công thúc đẩy dịch vụ công ích và tư nhân

Chính sách công cần tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực môi trường. Việc hỗ trợ vốn vay, thuế và mặt bằng cho các doanh nghiệp xử lý chất thải là cần thiết. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa khu vực công và tư sẽ nâng cao hiệu quả quản lý.

4.2. Tăng cường tuyên truyền thay đổi thói quen xả rác bừa bãi

Công tác tuyên truyền cần đa dạng hóa về hình thức và nội dung để tác động sâu sắc đến ý thức người dân. Việc sử dụng các phương tiện truyền thông địa phương và sinh hoạt cộng đồng sẽ giúp xóa bỏ thói quen vứt rác xuống ao hồ, mương nước, góp phần bảo vệ môi trường chung.

V. Kết quả thực tiễn quản lý môi trường cấp huyện Đất Đỏ

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy công tác quản lý môi trường cấp huyện tại Đất Đỏ đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Tỷ lệ thu gom rác tại các khu vực trung tâm thị trấn đạt mức cao nhờ sự hoạt động tích cực của đội ngũ công nhân vệ sinh. Theo khảo sát, 91% người dân đã nhận biết được điểm tập kết rác trong khu phố. Sự phối hợp giữa UBND huyện Đất Đỏ và các đơn vị dịch vụ đã giúp duy trì tần suất thu gom ổn định. Mặc dù còn khó khăn, nhưng mức độ hài lòng của người dân về thời gian thu gom đang dần được cải thiện. Kết quả phân tích cho thấy sự tham gia của cộng đồng có tác động trực tiếp đến hiệu quả của quy trình thu gom và vận chuyển rác. Tại các xã như Phước Long Thọ, người dân đã bắt đầu đóng góp ý kiến vào việc đặt vị trí xe rác. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ dân đăng ký đổ rác chính thức vẫn còn thấp so với tổng số dân 70.568 người. Đây là dư địa lớn để chính quyền tiếp tục cải thiện chính sách và mở rộng mạng lưới dịch vụ. Những số liệu này là cơ sở quan trọng để điều chỉnh các giải pháp quản lý công trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Hiệu quả từ mô hình thu gom rác thải tại các thị trấn

Tại thị trấn Đất Đỏ và Phước Hải, mô hình thu gom rác tận hộ gia đình đã mang lại diện mạo sạch đẹp cho phố phường. Sự hiện diện thường xuyên của công nhân vệ sinh và xe ép rác chuyên dụng giúp giảm thiểu tình trạng bãi rác tự phát, nâng cao chất lượng dịch vụ công ích.

5.2. Đánh giá mức độ hài lòng của người dân về dịch vụ vệ sinh

Phần lớn người dân đánh giá cao sự nỗ lực của đội ngũ công nhân vệ sinh môi trường. Tuy nhiên, một bộ phận vẫn chưa hài lòng với giờ giấc thu gom do không phù hợp với lịch sinh hoạt. Việc điều chỉnh lộ trình và thời gian là yêu cầu cấp thiết để tối ưu hóa sự tham gia của cộng đồng.

VI. Tầm nhìn phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn xanh

Hướng tới tương lai, huyện Đất Đỏ cần tích hợp các nguyên lý của kinh tế tuần hoàn vào chiến lược phát triển. Việc xây dựng khu xử lý chất thải tập trung 58 ha tại xã Láng Dài là bước đi chiến lược. Cơ sở này cần được trang bị công nghệ hiện đại để thay đổi phương pháp chôn lấp lạc hậu. Mục tiêu dài hạn là tái chế tối đa lượng rác thải phát sinh, biến rác thành nguồn năng lượng hoặc phân bón hữu cơ. Để đạt được điều này, phân loại rác tại nguồn phải trở thành quy định bắt buộc đối với mọi hộ gia đình. Chính quyền cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản lý công trong lĩnh vực môi trường. Sự gắn kết giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho huyện. Đất Đỏ hướng tới trở thành huyện nông thôn mới kiểu mẫu với môi trường sống xanh - sạch - đẹp. Sự thành công của đề tài nghiên cứu này sẽ đóng góp những hàm ý chính sách quan trọng cho tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khát vọng về một tương lai phát triển bền vững chỉ có thể thành hiện thực khi có sự chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân.

6.1. Giải pháp công nghệ xử lý chất thải hiện đại trong tương lai

Việc đầu tư vào các nhà máy xử lý chất thải bằng công nghệ đốt phát điện hoặc ủ phân compost quy mô lớn là cần thiết. Công nghệ hiện đại sẽ giúp xử lý triệt để các loại rác thải nguy hại, giảm thiểu diện tích chôn lấp và bảo vệ tài nguyên đất một cách bền vững.

6.2. Hướng tới mục tiêu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu bền vững

Môi trường là tiêu chí cứng trong xây dựng nông thôn mới. Việc nâng cao ý thức người dân và hoàn thiện hệ thống quản lý rác thải sẽ giúp Đất Đỏ hoàn thành sớm các mục tiêu. Đây là nền tảng để nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bền vững cho các thế hệ mai sau.

13/10/2025
Luận văn quản lý công sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện đất đỏ tỉnh bà rịa vũng tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu đề tài, trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận: trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, rút ra mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương giới thiệu quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu, xác định kích thướng mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập được tiến hành như thế nào và các kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu thập được từ cuộc khảo sát. Chương 5: Kết luận và Khuyến nghị. Tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài, đặc biệt là mô hình nghiên cứu.

Từ đó có khuyến nghị những giải pháp nhằm làm gia tăng sự hiểu biết của người dân về những tác hại ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt gây ra đến sức khỏe cộng đồng, vẻ mỹ quan đô thị, nâng cao chất lượng dịch vụ. Qua đó, góp sức cùng nhà nước giải quyết vấn đề môi trường, giảm bớt phần nào gánh nặng cho ngân sách nhà nước. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương 2 trình bày các khái niệm về sự tham gia; sự tham gia của xã hội; thang đo của sự tham gia; rác thải; quản lý rác thải. Ngoài ra, để có cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả cũng đã tìm hiểu một số nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về sự tham gia (Participation) - Theo Tổ chức Y tế Thế giới (ICE, 2001) cho rằng sự tham gia có thể là một yếu tố nguồn cho sự hiểu biết rõ hơn của một vấn đề tác động đến quyết định và môi trường sông của cá nhân trong khu vực.

- Theo Van de Valde và cộng sự (2010) lại cho rằng sự tham gia là quá trình tham gia trong một hoạt động của cuộc sống hoặc là quá trình trải qua các hoạt động theo sự thấu hiểu vấn đề mà trong thực tế khu vực họ đang sống. - Theo ADB (2013): Sự tham gia là cần thiết vì những chương trình được thực hiện nhằm mục đích lợi ích của người dân tai khu vực và thực chất bản thân một chương trình được thực hiện và đánh giá đạt yêu cầu vẫn có xu hướng tốn rất nhiều kinh phí, chương trình thực hiện kém hiệu quả nếu không có sự tham gia của người dân và các bên liên quan. Sự tham gia được xem là cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hiện nay nhằm tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa chính phủ và người dân để lựa chọn và đóng góp vào hoạt động, đồng thời cùng hợp tác thực hiện và tìm kiếm những vấn đề hay những ảnh hướng có thể xảy ra để hoàn thiện. Vì thế, cho đến nay, các hoạt động được đề xuất để thực hiện nhằm phát triển kinh tế xã hội nào cũng đều cho rằng sự tham gia là hạn chế hoặc tham gia ở một khía cạnh nào đó.2 Khái niệm về sự tham gia của xã hội (Social Participation) - Theo Florin và Abraham (1990) cho rằng sự tham gia của xã hội là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ.

- Harding cùng cộng sự (2009) đã phân tích khái niệm “sự tham gia của cộng đồng” theo hai thuật ngữ thành phần “sự tham gia” và “cộng đồng”. “Sự tham gia” đặc 6 biệt trong lĩnh vực môi trường, được hiểu là quá trình đối thoại giữa cộng đồng và người ra quyết định, giữa một bên là các cá nhân, nhóm tổ chức và một bên là “nhóm chính quyền” trong việc thảo luận và ra các quyết định môi trường. Thuật ngữ “cộng đồng” bao gồm tất cả các chủ thể đóng góp hay bị ảnh hưởng bởi các quyết định môi trường, bao gồm những người hoạch định chính sách, chuyên gia, doanh nhân, các cá nhân thụ hưởng, tổ chức dân sự và nhóm người dân. Như vậy, cộng đồng được hiểu là một khái niệm có hội hàm khá rộng, bao gồm tất cả các thành viên cùng sinh sống trong một khu vực địa lý, có những đặc điểm chung về lối sống và các điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa, chính trị.

- Trong sách Institute for Social Participation and Health Issues Centre của La Trobe University (2011) cho rằng sự tham gia của xã hội được xem là quá trình tham gia của người tiêu dùng, xuất phát từ người tiêu dùng kết nối hòa nhập với xã hội và các hoạt động dựa trên lợi ích của người tiêu dùng. Theo nội dung của sự tham gia xã hội, ba thành phần trung tâm trong mô tả về sự tham gia của xã hội cho phép mọi người dân được thực hiện các mức đo trong sự tham gia xã hội để tự đánh giá; các yếu tố có liên quan đến các khái niệm về lợi ích xã hội, hòa nhập xã hội và quyền con người của cá nhân để thực hiện các mức đo tự xác định của sự tham gia trong tất cả các khía cạnh của xã hội và trách nhiệm của xã hội để cung cấp các điều kiện cần thiết cho việc các hoạt động được đề xuất. - Theo Scand (2013) thì khái niệm về sự tham gia của xã hội có tính tương đồng và tương quan với sự tham gia và đồng thời liên quan đến khái niệm về các vấn đề của tham gia xã hội, hòa nhập xã hội hoặc các hoạt động của xã hội. - Cuối cùng, sự tham gia của xã hội đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý công, sự tham gia của xã hội chủ yếu tập trung vào mức độ tham gia của người dân đó như thế nào vào các hoạt động cung cấp và có tương tác như thế nào với người khác trong xã hội hoặc khu vực cộng đồng sinh sống.

Sự tham gia của xã hội còn được nhấn mạnh rằng là sự tham gia có thể được nhìn thấy trên một hoạt động liên tục từ tương đối thụ động đến rất tích cực và cho rằng sự tham gia của xã hội có thể được trên cơ sở tự nguyện hoặc là bắt buộc. 7 Thang đo sự tham gia của người dân - Nghiên cứu của Sherry (1969) chú trọng sự tham gia của người dân thông qua việc đưa ra 08 mức độ (Vancouver Community Network, 2014). Thang đo 8 mức độ này được David Wilcox phân chia từ cao đến thấp và mô tả như sau: MỨC ĐỘ HÌNH THỨC MÔ TẢ Người dân khởi xướng công việc nhằm giải quyết nhu cầu của họ, đồng thời huy động nguồn lực để thực hiện dự án. Người dân quản lý Ở nấc thang này, người dân (Citizen Control) thực hiện toàn bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định chính sách và quản lý một chương trình.

Người dân nắm đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định cao hơn các bên Người dân được trao Ủy quyền (Delegated có liên quan khác thông qua quyền (Citizen Control) Power) việc đàm phán. Do có quyền cao hơn nên người dân phải chịu trách nhiệm trong các quyết định của mình. Có sự dàn xếp để chia sẻ quyền lực và tráchnhiệm giữa các bên có liên quan. Đối tác, hợp tác Các bên có liên quan này (Partnership) phải có trách nhiệm trong việc lên kế hoạch và ra quyết định trong quá trình thực hiện công việc.

8 Người dân thể hiện quyền lực bằng cách bầu ra một ủy ban để thực hiện chương trình Động viên (Placation) hoặc những ý kiến đóng góp của người dân được lắng nghe và ghi nhận. Chính quyền sẽ khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc họp và tham khảo ý kiến của cộng đồng, người dân sẽ trả lời câu hỏi khảo sát và tham gia ý Tham vấn (Consultation) kiến. Những ý kiến này chỉ Tham gia mang tính dùng để tham khảo, họ không hình thức (Tokenism) được ra quyết định. Thông thường đây chỉ là bước nghi thức.

Người dân được thông tin về chương trình, tuy nhiên đó là thường là thông tin một chiều, người dân chỉ trả lời Cung cấp thông tin câu hỏi mà chính quyền đưa (Informing) ra mà không có cơ hội phản hồi, không tham gia vào phân tích hay sử dụng thông tin mình đưa ra. Vấn đề của người dân đã Không tham gia được xem xét bởi đại diện Liệu pháp (Therapy) (Nonpaticipation) của chính quyền, người dân làm theo ý của người đại diện 9 mà không hiểu việc mình đang làm. Người dân bị thuyết phục theo mọi ý kiến của chính quyền, mọi việc đều do chính quyền thực hiện bằng cách Bị điều khiển thuê bên ngoài, người dân (Manipulation) không tham gia bất kỳ khâu nào của quá trình, phản ứng của người dân không được đưa vào. Tóm lại, ở hai nấc thang dưới cùng, người dân không tham gia vào bất cứ hoạt động nào của chương trình, đây chỉ là bước vận động để có thể lôi kéo, thu hút người dân tham gia vào chương trình mà chắc chắn ở đó, họ sẽ nhận được lợi ích.

Ở ba nấc thang tiếp theo, mặc dù chỉ là hình thức, nhưng người dân đã nhận thức được lợi ích từ chương trình, từ đó từng bước tham gia vào các hoạt động: Từ cung cấp thông tin một chiều thông qua khảo sát của chính quyền đến việc được tham vấn, đưa ra các ý kiến về các vấn đề tại địa phương. Ở ba nấc thang cao nhất, người dân thực sự là chủ thể của chương trình, từ việc hợp tác, đến ủy quyền thực hiện và trực tiếp quản lý. - Jeremy và Henry (2014) đã đưa ra sáu mức độ tham gia của người dân: MỨC ĐỘ MÔ TẢ 1/ Tiêu thụ (Consuming) Sức mạnh cũ, người dân không có sự tham gia, mất lợi thế. 2/ Chia sẻ (Sharing) Lấy nội dung của người khác và chia sẽ nó với những người khác.

3/ Định hình (Shaping) Pha trộn lại hoặc thích ứng nội dung hoặc các tài sản hiện hữu với thông điệp hoặc hương vị mới. 10 4/ Tài trợ (Funding) Người tham gia sẵn sàng cam kết đóng góp kinh phí vào quá trình tạo ra những giá trị, quyền lực mới để thỏa mãn nguyện vọng của chính họ. 5/ Sản xuất (Producing) Tạo ra các nội dung hoặc phân phối các sản phẩm, dịch vụ trong cộng đồng đồng đẳng. 6/ Đồng sở hữu (Co-owning) Mọi người đều là người quản lý ngang hàng không thứ bậc, đều được chia sẽ những lợi ích từ sự đóng góp của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ