Tài liệu Nông nghiệp: Luận văn quản lý công sự nhận thức và thích ứng với

Nghiên cứu nhận thức và thích ứng biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về môi trường tại Xuyên Mộc

Công tác Quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Xuyên Mộc đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trước những diễn biến phức tạp của thời tiết. Với đặc thù địa lý có đường bờ biển dài 32km, Xuyên Mộc là khu vực hết sức nhạy cảm với các tác động của Biến đổi khí hậu vùng ven biển. Chính quyền địa phương đã triển khai nhiều Chính sách công về môi trường nhằm hạn chế tối đa thiệt hại cho ngành nông nghiệp. Thực tế cho thấy, diện tích đất nông nghiệp tại đây chiếm đến 79,76% tổng diện tích tự nhiên, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, việc Phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương đang gặp nhiều rào cản do tình trạng xói lở và bồi lấp luồng lạch. Các khu vực như Hồ Tràm, Hồ Cốc và Bình Châu được xác định là những điểm nóng cần sự can thiệp cấp bách từ phía cơ quan quản lý. Việc xây dựng các khung pháp lý và kế hoạch ứng phó dài hạn không chỉ giúp ổn định sản xuất mà còn đảm bảo Sinh kế cộng đồng ven biển bền vững. Sự phối hợp giữa các sở ban ngành như Sở Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền huyện là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả quản lý. Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng, từ năm 2010 đến 2016, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch nhưng nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao (39,89% vào năm 2016). Điều này đòi hỏi một chiến lược quản trị môi trường linh hoạt, tập trung vào việc dự báo và Giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một môi trường sản xuất an toàn, nơi người dân có thể chủ động đối phó với những biến động bất thường của khí hậu.

1.1. Thực trạng biến đổi khí hậu vùng ven biển Bà Rịa Vũng Tàu

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chịu tác động rõ rệt từ các hiện tượng thời tiết cực đoan trong hơn 10 năm qua. Các cơn bão lớn xuất hiện với tần suất dày hơn, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Theo số liệu quan trắc, nhiệt độ trung bình tại trạm Vũng Tàu tăng 0,022°C mỗi năm. Tình trạng Nước biển dâng Bà Rịa Vũng Tàu kèm theo triều cường đã làm biến mất nhiều dải đồi cát cao. Các hệ sinh thái ven biển đang trở nên mong manh hơn bao giờ hết trước sự xâm thực của đại dương.

1.2. Vai trò của chính sách công về môi trường trong nông nghiệp

Các Chính sách công về môi trường đóng vai trò định hướng cho người dân trong việc thay đổi hành vi sản xuất. Chính quyền huyện Xuyên Mộc đã tích cực phổ biến kiến thức về Nhận thức rủi ro khí hậu thông qua các lớp tập huấn. Việc hỗ trợ kinh phí nạo vét kênh mương và xây dựng đê kè là những hành động cụ thể. Những chính sách này giúp tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống nông nghiệp, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để huy động các nguồn lực xã hội vào công cuộc ứng phó BĐKH.

II. Thách thức xâm nhập mặn Xuyên Mộc và nước biển dâng cao

Vấn đề Xâm nhập mặn Xuyên Mộc đang trở thành mối đe dọa trực tiếp đến năng suất cây trồng và chất lượng nguồn nước ngọt. Hiện tượng Nước biển dâng Bà Rịa Vũng Tàu với tốc độ 0,325 cm/năm đã làm sâu sắc thêm tình trạng nhiễm mặn tại các xã ven biển như Bình Châu và Phước Thuận. Người dân địa phương ngày càng lo ngại về việc đất canh tác bị thu hẹp và bạc màu. Sự gia tăng nồng độ mặn trong các kênh rạch không chỉ ảnh hưởng đến trồng trọt mà còn gây khó khăn cho ngành chăn nuôi. Đặc biệt, Tác động của El Nino và La Nina khiến quy luật mưa nắng bị đảo lộn, gây ra những đợt hạn hán kéo dài xen kẽ lũ lụt cục bộ. Nhận thức rủi ro khí hậu của người dân dù đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đủ để đối phó với những kịch bản cực đoan. Nhiều hộ gia đình vẫn sản xuất dựa trên kinh nghiệm cũ, dẫn đến thiệt hại lớn khi thiên tai bất ngờ ập đến. Theo báo cáo, diện tích đất trồng lúa tại Xuyên Mộc chỉ còn chiếm 2,02% diện tích đất tự nhiên, một phần do ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Việc quản lý tài nguyên nước trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để duy trì sản xuất. Các mô hình dự báo xâm nhập mặn cần được đầu tư bài bản để cung cấp thông tin kịp thời cho nông dân. Nếu không có những biện pháp ngăn chặn hiệu quả, nguy cơ mất trắng trong các vụ mùa là rất cao. Thách thức này đòi hỏi sự kết hợp giữa giải pháp công trình và phi công trình để bảo vệ vùng đất ven biển quý giá.

2.1. Nhận thức rủi ro khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển

Phần lớn người dân tại Phước Thuận, Bưng Riềng và Bình Châu đã cảm nhận được sự thay đổi của thời tiết. Tuy nhiên, mức độ Nhận thức rủi ro khí hậu vẫn còn sự chênh lệch giữa các nhóm hộ. Một số hộ dân vẫn chủ quan, chưa chủ động tìm kiếm thông tin dự báo từ các kênh chính thống. Sự hiểu biết về nguyên nhân sâu xa của BĐKH còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở việc quan sát các hiện tượng bề nổi như nắng nóng hay mưa bão thất thường.

2.2. Tác động của El Nino và La Nina đến sản xuất nông nghiệp

Hiện tượng El Nino và La Nina gây ra những biến động nhiệt độ và lượng mưa cực đoan tại Xuyên Mộc. El Nino thường mang đến hạn hán khốc liệt, làm cạn kiệt nguồn nước tưới và tăng nguy cơ cháy rừng. Ngược lại, La Nina gây mưa lớn kéo dài, dẫn đến ngập úng và hư hỏng cơ sở hạ tầng nông nghiệp. Những hiện tượng này làm giảm năng suất lúa, bắp và các loại cây công nghiệp như hồ tiêu, cao su, gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho nông hộ.

III. Bí quyết nâng cao năng lực thích ứng Adaptive capacity

Để tồn tại và phát triển, việc nâng cao Năng lực thích ứng (Adaptive capacity) là yêu cầu bắt buộc đối với người nông dân Xuyên Mộc. Đây là khả năng tự điều chỉnh của hệ thống sản xuất trước những biến động tiêu cực của môi trường. Người dân đã bắt đầu áp dụng các kỹ thuật mới và thay đổi Cơ cấu cây trồng thích ứng với tình trạng thiếu nước và nhiễm mặn. Thay vì canh tác các giống lúa truyền thống, nhiều hộ đã chuyển sang trồng các loại cây chịu hạn hoặc cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Việc đa dạng hóa sinh kế, kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi, giúp giảm thiểu rủi ro khi một ngành gặp sự cố. Quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng cũng được đẩy mạnh thông qua việc thành lập các tổ hợp tác chia sẻ kinh nghiệm ứng phó thiên tai. Các biện pháp kỹ thuật như tưới tiết kiệm, sử dụng phân bón hữu cơ và cải tạo đất mặn đã mang lại những kết quả bước đầu. Tài liệu cho thấy người dân đã chủ động nâng cấp chuồng trại và gia cố ao nuôi thủy sản để chống chọi với bão lũ. Tuy nhiên, Năng lực thích ứng vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn và trình độ kỹ thuật của từng hộ. Chính quyền địa phương cần đóng vai trò cầu nối, cung cấp các hỗ trợ về tài chính và chuyển giao công nghệ. Một hệ thống nông nghiệp có khả năng thích ứng cao sẽ là nền tảng cho sự ổn định kinh tế - xã hội của huyện. Sự chủ động của người dân, kết hợp với sự hỗ trợ từ nhà nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu.

3.1. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với điều kiện mới

Việc thay đổi Cơ cấu cây trồng thích ứng là giải pháp chiến lược tại Xuyên Mộc. Nhiều diện tích đất lúa kém hiệu quả đã được chuyển sang trồng rau màu hoặc cây ăn quả như nhãn xuồng cơm vàng, mãng cầu ta. Những loại cây này không chỉ chịu hạn tốt hơn mà còn mang lại thu nhập cao hơn cho người dân. Nông dân cũng chú trọng lựa chọn các giống cây ngắn ngày để né tránh thời điểm thiên tai thường xuyên xảy ra trong năm.

3.2. Quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng trong chăn nuôi thủy sản

Mô hình Quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng giúp các hộ nuôi trồng thủy sản tại Bình Châu và Phước Thuận chia sẻ thông tin về dịch bệnh và môi trường nước. Người dân cùng nhau xây dựng lịch thời vụ thả nuôi hợp lý để tránh các đợt áp thấp nhiệt đới. Trong chăn nuôi, việc cộng đồng giúp đỡ nhau gia cố chuồng trại và tiêm phòng dịch bệnh đã giảm thiểu đáng kể tỷ lệ gia súc, gia cầm bị chết do thời tiết cực đoan.

IV. Cách phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương bền vững

Mục tiêu hướng tới Nông nghiệp bền vững tại Xuyên Mộc đòi hỏi một tầm nhìn dài hạn và sự đầu tư đồng bộ. Phát triển kinh tế không thể tách rời việc bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chính quyền huyện đã xác định nông nghiệp là một trong những trụ cột kinh tế, chiếm trên 40% giá trị sản xuất toàn tỉnh. Để đạt được sự bền vững, cần phải gắn kết sản xuất với chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ. Việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất giúp tăng năng suất đồng thời giảm thiểu tác động xấu đến tài nguyên đất và nước. Sinh kế cộng đồng ven biển cần được đa dạng hóa, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác tự nhiên đang dần cạn kiệt. Các mô hình nông nghiệp sinh thái, kết hợp du lịch trải nghiệm đang mở ra hướng đi mới đầy triển vọng. Ngoài ra, việc bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn là lá chắn tự nhiên quan trọng để Giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Các chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho nông dân chuyển đổi mô hình sản xuất cần được thực hiện quyết liệt hơn. Sự tham gia của doanh nghiệp vào lĩnh vực nông nghiệp cũng là yếu tố thúc đẩy quá trình hiện đại hóa. Luận văn nhấn mạnh rằng, chỉ khi người dân có thu nhập ổn định, họ mới có đủ nguồn lực để tái đầu tư vào các biện pháp thích ứng. Nông nghiệp bền vững chính là chìa khóa để Xuyên Mộc vượt qua những thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu.

4.1. Cải thiện sinh kế cộng đồng ven biển thông qua đào tạo

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để cải thiện Sinh kế cộng đồng ven biển. Các lớp đào tạo nghề ngắn hạn về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản và du lịch dịch vụ đã giúp người dân có thêm lựa chọn việc làm. Khi có kiến thức, người dân không còn khai thác tài nguyên một cách tận diệt mà chuyển sang các hình thức sản xuất bền vững hơn, từ đó ổn định thu nhập gia đình trước những biến động của khí hậu.

4.2. Đầu tư hạ tầng giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Xuyên Mộc

Hệ thống hạ tầng cơ sở như đê biển, kênh thoát lũ và trạm bơm cần được đầu tư nâng cấp để Giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Tại Xuyên Mộc, việc kiên cố hóa các tuyến đê bao ngăn mặn đã bảo vệ hàng ngàn hecta đất canh tác khỏi sự xâm nhập của nước biển. Ngoài ra, việc đầu tư vào hệ thống dự báo khí tượng thủy văn địa phương giúp cung cấp thông tin cảnh báo sớm, giúp người dân chủ động bảo vệ tài sản và sản xuất.

V. Kết quả thực tiễn về sinh kế cộng đồng ven biển hiện nay

Nghiên cứu thực tế tại 3 xã ven biển Xuyên Mộc cho thấy những kết quả khả quan trong việc thích ứng với BĐKH. Người dân đã không còn thụ động chờ đợi mà đã có những hành động cụ thể để bảo vệ sản xuất. Tỷ lệ hộ dân áp dụng các biện pháp thích ứng trong trồng trọt và chăn nuôi ngày càng tăng. Kết quả cho thấy, sản lượng khai thác thủy sản năm 2016 đạt 12.325 tấn, tăng trưởng bình quân 4,48%/năm bất chấp những khó khăn về thời tiết. Trong nuôi trồng thủy sản, việc chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao đã mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Năng lực thích ứng (Adaptive capacity) của cộng đồng được thể hiện rõ qua việc tự huy động nguồn lực để sửa chữa tàu thuyền và ao đầm sau mỗi mùa bão. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế về vốn và tiếp cận thông tin kỹ thuật của các hộ nghèo. Vai trò của chính quyền địa phương được đánh giá cao trong việc điều tiết nguồn nước và hỗ trợ giống cây trồng. Các mô hình Nông nghiệp bền vững bước đầu đã hình thành và lan tỏa trong cộng đồng. Sự thay đổi trong nhận thức đã dẫn đến sự thay đổi trong hành động, giúp giảm thiểu thiệt hại đáng kể. Theo số liệu khảo sát, đa số người dân đều nhận thấy tầm quan trọng của việc theo dõi dự báo thời tiết hàng ngày. Những thành công bước đầu này là động lực để huyện Xuyên Mộc tiếp tục triển khai các chiến lược ứng phó mạnh mẽ hơn trong tương lai.

5.1. Hiệu quả từ việc thay đổi kỹ thuật canh tác lúa và rau

Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến như SRI trên lúa và VietGAP trên rau đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Nông dân tại Phước Thuận đã giảm được lượng nước tưới và phân bón hóa học, giúp cây trồng chống chịu tốt hơn với dịch bệnh và nắng nóng. Năng suất lúa trung bình tăng từ 3,92 tấn/ha năm 2010 lên 4,72 tấn/ha năm 2016, chứng minh rằng thay đổi kỹ thuật là hướng đi đúng đắn.

5.2. Đánh giá sự chủ động thích ứng của ngư dân Bình Châu

Ngư dân xã Bình Châu đã thể hiện sự chủ động cao trong việc nâng cấp công suất tàu thuyền để đánh bắt xa bờ. Việc trang bị các thiết bị định vị và máy tầm ngư hiện đại giúp tăng hiệu quả đánh bắt và đảm bảo an toàn trên biển. Dù cửa biển bị bồi lắng gây khó khăn, ngư dân vẫn linh hoạt tìm kiếm các ngư trường mới và thay đổi phương thức khai thác để phù hợp với sự biến động của nguồn lợi thủy sản.

VI. Tương lai quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng tại Xuyên Mộc

Tầm nhìn đến năm 2030, Xuyên Mộc cần hoàn thiện mô hình Quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng để ứng phó hiệu quả với Biến đổi khí hậu vùng ven biển. Đây là mô hình lấy người dân làm trung tâm, phát huy kiến thức bản địa kết hợp với khoa học hiện đại. Việc xây dựng các cộng đồng an toàn trước thiên tai sẽ giúp giảm bớt áp lực cho ngân sách nhà nước trong việc cứu trợ và khắc phục hậu quả. Chính quyền cần tiếp tục đầu tư vào hệ thống thông tin liên lạc và cảnh báo sớm đến tận từng hộ gia đình. Chính sách công về môi trường trong tương lai phải chú trọng đến việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xanh. Khuyến khích các mô hình sản xuất không phát thải và sử dụng năng lượng tái tạo trong nông nghiệp. Việc hợp tác quốc tế trong nghiên cứu BĐKH sẽ mang lại những giải pháp kỹ thuật mới cho địa phương. Luận văn kiến nghị cần có thêm các quỹ hỗ trợ rủi ro thiên tai dành riêng cho nông dân ven biển. Đẩy mạnh công tác truyền thông để Nhận thức rủi ro khí hậu trở thành một phần trong văn hóa sản xuất của người dân. Một cộng đồng đoàn kết và có kiến thức sẽ là thành trì vững chắc nhất trước những thử thách của thiên nhiên. Xuyên Mộc hoàn toàn có thể trở thành điểm sáng về thích ứng BĐKH nếu thực hiện tốt các giải pháp đồng bộ. Tương lai của ngành nông nghiệp huyện phụ thuộc vào sự quyết liệt của chính quyền và sự đồng lòng của mỗi người dân ven biển.

6.1. Tăng cường phối hợp giữa chính quyền và người dân ven biển

Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và người dân là yếu tố quyết định thành công của các kế hoạch ứng phó BĐKH. Cần thiết lập các kênh phản hồi thông tin hai chiều để chính quyền kịp thời nắm bắt những khó khăn thực tế của nông dân. Ngược lại, người dân cần tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn về lịch thời vụ và quy hoạch sản xuất của địa phương để giảm thiểu rủi ro chung cho toàn cộng đồng.

6.2. Tầm nhìn chiến lược ứng phó nước biển dâng đến năm 2030

Chiến lược ứng phó Nước biển dâng Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2030 cần tập trung vào việc quy hoạch lại các khu dân cư và vùng sản xuất xung yếu. Cần chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó với mực nước biển dâng cao thêm 20-30cm để có các phương án bảo vệ đê điều và cơ sở hạ tầng giao thông. Việc dự trữ nguồn nước ngọt và phát triển các giống cây chịu mặn cực tốt sẽ là ưu tiên hàng đầu trong thập kỷ tới.

13/10/2025
Luận văn quản lý công sự nhận thức và thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện xuyên mộc tỉnh bà rịa vũng tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, trình bày vấn đề nghiên cứu đề tài và giới thiệu tổng quát về câu hỏi, đối tượng, phạm vi và cách thu thập, phân tích số liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2, trình bày chi tiết về cơ sở lý luận và thực tiễn về sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân. Chương 3, thể hiện các quy trình, phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài. Chương 4, phân tích kết quả nghiên cứu về những biểu hiện BĐKH và ảnh hưởng của nó đến hoạt động SXNN, đồng thời thể hiện được nhận thức của người dân về BĐKH cũng như những biện pháp mà người dân ven biển đã áp dụng trong hoạt động SXNN để thích ứng với BĐKH.

5 Chương 5, đưa ra kết luận và đề xuất các kiến nghị để nâng cao khả năng nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nội dung của chương này nhằm mục đích giới thiệu những cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển. Phần thứ nhất, giới thiệu những khái niệm về BĐKH, thích ứng với BĐKH, SXNN, vùng ven biển, các biểu hiện của BĐKH và ảnh hưởng của nó đến SXNN, cũng như nêu khái niệm về sự thích ứng với BĐKH trong SXNN. Phần thứ hai, trình bày những kinh nghiệm về sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân vùng ven biển của một số nước trên thế giới cũng như tại các tỉnh của Việt Nam.

Phần thứ ba của chương, tác giả lược khảo một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, từ đó đề xuất khung phân tích của đề tài.1 Biến đổi khí hậu (climate change) Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) thì “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được” (United Nations, 1992). Theo Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) thì BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) định nghĩa BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.2 Thích ứng với biến đổi khí hậu Để ứng phó với BĐKH, thế giới đang thực hiện cùng lúc 02 chiến lược: Giảm thiểu BĐKH và thích ứng với BĐKH.

Các thách thức đối với 02 chiến lược 7 này đều rất lớn. Tuy nhiên, những thách thức này có thể được giải quyết thông qua những chính sách chủ động và phù hợp về khí hậu (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012). Năng lực thích ứng thường được xem xét trong bối cảnh thay đổi về môi trường để gắn kết giữa năng lực thích ứng với những vấn đề về quản trị môi trường. Gần đây, năng lực thích ứng được xem xét trong bối cảnh BĐKH toàn cầu.

Năng lực thích ứng với BĐKH được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: IPCC (2007) định nghĩa thích ứng với BĐKH là khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), thì thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc kinh tế - xã hội đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dung các cơ hội do nó mang lại. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2009) cho rằng thích ứng với BĐKH là năng lực của xã hội để thay đổi theo cách làm cho xã hội được trang bị tốt hơn để có thể quản lý những rủi ro hoặc nhạy cảm từ những ảnh hưởng của BĐKH. Mặt khác, theo Quyen Dinh Ha (2013) thì thích ứng với BĐKH còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổng thương.

Cây cối động vật, và con người không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và giảm thiểu các rủi ro từ những thay đổi đó. Như vậy, có thể thấy rằng, năng lực thích ứng với BĐKH phản ánh khả năng của một hệ thống hoặc xã hội trong việc điều chỉnh hoặc ứng phó với BĐKH nhằm đạt được 3 mục tiêu: (i) giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH gây ra, (ii) giảm nhẹ các thiệt hại có thể xảy ra, và (iii) tận dụng các cơ hội mới do BĐKH mang lại.3 Sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Đình Thắng (2006) thì nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp, vì cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm 8 cả ngành lâm nghiệp, diêm nghiệp và thủy sản. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ.

Trong đó, trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp. Ben G (2014) nêu khái niệm nông nghiệp là ngành có liên quan đến nuôi trồng và chăn nuôi gia súc. Thuật ngữ "nông nghiệp" có thể được định nghĩa là: Nghệ thuật và khoa học của cây trồng, cây trồng khác và vật nuôi nhằm cung cấp thực phẩm cho con người hoặc mang lại các lợi ích kinh tế khác. Nông nghiệp là cả một nghệ thuật và khoa học, nó có hai bộ phận chính: Thực vật hoặc trồng trọt và động vật hoặc chăn nuôi.

Mục đích cuối cùng của nông nghiệp là để sản xuất thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của con người quần áo, thuốc men, dụng cụ, nhà ở, hoặc cho lợi ích kinh tế hay lợi nhuận. Theo quan điểm của Đặng Thị Hoa (2017) thì SXNN là ngành sản xuất vật chất với đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng, vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm cho con người và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp. Với quan điểm này, tùy theo phạm vi và mục tiêu nghiên cứu mà SXNN có thể được hiểu theo nghĩa rộng (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp) hay nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi).4 Vùng ven biển Ngân hàng phát triển tây Châu Phi (BOAD – Banque Ouest Africaine De Developpement, 1973) cho rằng không có định nghĩa chính xác về vùng ven biển. Họ cho rằng vùng ven biển bao gồm vùng nước, vùng biển, cửa sông và một số phần đất dọc bờ biển nơi có hoạt động của con người và các quá trình tự nhiên.

Giới hạn của những vùng đất khác nhau được xác định không chỉ bằng sinh thái và địa chất, đặc điểm mà còn được xác định dưới góc độ chính trị và quản lý hành chính. Theo Scialabba and Nadia (1998), vùng ven biển được định nghĩa là giao diện hoặc các khu vực chuyển tiếp giữa đất liền và biển, bao gồm cả các hồ nội địa lớn. Vùng ven biển không giống như các lưu vực sông, không có ranh giới tự nhiên chính xác, rõ ràng để khoanh định khu vực ven biển. Đặng Thị Hoa (2017) định nghĩa vùng ven biển là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương hỗ giữa lục địa và biển, 9 hệ tự nhiên và hệ nhân văn, các ngành và người sử dụng tài nguyên vùng bờ theo cả cấu trúc dọc và cấu trúc ngang, giữa cộng đồng dân địa phương và các thành phần kinh tế khác.

Như vậy, vùng ven biển là dải tương đối hẹp của nước, đất đai và các yếu tố tự nhiên có tính năng là bãi biển, vùng đất ngập nước, cửa sông, đầm phá, các rạn san hô và cồn.5 Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp Dựa trên những khái niệm, quan điểm về BĐKH, về thích ứng với BĐKH, về SXNN, và theo Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013) thì thích ứng với BĐKH trong SXNN là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoạt động canh tác nông nghiệp nhằm giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH gây ra và có thể tận dụng các cơ hội do BĐKH mang lại cho SXNN. Như vậy, bản chất của thích ứng với BĐKH trong SXNN chính là thay đổi nhận thức, là thay đổi hành vi ứng xử của người dân nhằm ứng phó với các điều kiện khí hậu, thời tiết cực đoan ở hiện tại hoặc tiềm ẩn trong tương lai để giảm thiểu thiệt hại và có thể tận dụng các cơ hội của nó nếu có cho SXNN. Thích ứng với BĐKH trong SXNN là cách mà người dân làm để ngày càng giảm thiểu được thiệt hại do BĐKH gây ra cho SXNN, để hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thủy sản,… ít bị tổn thương, giữ được năng suất cao và ổn định,… từ đó góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả trong SXNN cho gia đình (Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu, 2013). Cũng theo nghiên cứu của Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013) thì: (i) Nghiên cứu thích ứng với BĐKH trong SXNN bao gồm những nghiên cứu thích ứng với khí hậu hiện tại cũng như với khí hậu trong tương lai; (ii) Thích ứng diễn ra ở cả trong tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ