Tổng quan nghiên cứu

Thị trường tài chính Việt Nam trong chu kỳ kinh tế gần đây chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tín dụng bán buôn sang bán lẻ, đặc biệt khi quy mô tín dụng tiêu dùng toàn quốc năm 2017 đạt khoảng 26,5 tỷ USD, tăng trưởng 65% so với năm 2016 và chiếm 18% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Với quy mô dân số hơn 90 triệu người và 48% dân số thuộc nhóm thu nhập trung bình, dư địa tăng trưởng tín dụng bán lẻ tại các đô thị lớn là vô cùng tiềm năng. Đứng trước xu thế tái cơ cấu ngành ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro tập trung sau giai đoạn nợ xấu tăng cao, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh TP.Hồ Chí Minh đã chủ động chuyển đổi chiến lược kinh doanh để thâm nhập sâu vào phân khúc bán lẻ.

Mặc dù BIDV – HCM là một trong những chi nhánh cấp một có quy mô lớn nhất hệ thống với tổng tài sản đến cuối năm 2017 đạt 22.121 tỷ đồng (tăng 46% so với mức 15.144 tỷ đồng của năm 2013) và đội ngũ nhân sự khoảng 350 cán bộ, nhưng mảng tín dụng bán lẻ của chi nhánh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Dư nợ bán lẻ năm 2017 đạt 746,415 tỷ đồng, chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng tài sản và cơ cấu sản phẩm còn mất cân đối nghiêm trọng khi phụ thuộc quá mức vào cho vay bất động sản.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng phát triển sản phẩm tín dụng bán lẻ tại BIDV – HCM giai đoạn 2013 – 2017, bóc tách các nguyên nhân cốt lõi khiến các dòng sản phẩm chủ lực như vay tiêu dùng tín chấp, cho vay du học và thấu chi chưa đạt kỳ vọng. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp thực tiễn đến năm 2020 nhằm đa dạng hóa danh mục, ứng dụng công nghệ và tối ưu hóa ngân sách truyền thông vốn đã vượt mức 19 tỷ đồng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển sản phẩm của Karl và Eppinger (2010), khẳng định phát triển sản phẩm là quá trình tập thể phức tạp nhằm biến ý tưởng thành sản phẩm đáp ứng chính xác nhu cầu thị trường để tối ưu hóa lợi nhuận. Tác giả kết hợp mô hình mở rộng dòng sản phẩm của Zikmund và D’Amico (1993) cùng quan điểm phát triển sản phẩm mới của Kotler và Armstrong (1991) để phân định rõ giữa cải tiến sản phẩm hiện hữu và sáng tạo sản phẩm mới. Bên cạnh đó, mô hình lợi thế cạnh tranh tiên phong của Cooper (1999, 2001) được vận dụng để lý giải tầm quan trọng của việc rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường và thu thập thông tin phản hồi từ người tiêu dùng.

Về mặt học thuật, nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm trung tâm bao gồm: Tín dụng bán lẻ (theo Điều 4 Luật sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 và quy chuẩn phân định khách hàng cá nhân của BIDV), Phát triển sản phẩm tín dụng bán lẻ theo cả chiều rộng (quy mô dư nợ, số lượng khách hàng) và chiều sâu (chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu dưới ngưỡng 3% - 5%), Ngân hàng số và Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp giải quyết tình huống (problem-solving) kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định tính và điều tra định lượng trong khung thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018.

Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động kinh doanh định kỳ và tài liệu hội nghị chuyên đề của BIDV – HCM giai đoạn 2013 – 2017. Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành khảo sát thực nghiệm với cỡ mẫu 197 khách hàng cá nhân đang sử dụng dịch vụ tại chi nhánh. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo nhóm nhu cầu vay vốn được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu đa chiều, đại diện cho các phân khúc khách hàng mua nhà, vay tiêu dùng, thấu chi và hộ kinh doanh.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh và xử lý bảng biểu qua phần mềm Excel là nhằm xác định chính xác xu hướng biến động dư nợ 5 năm liên tiếp, làm rõ độ co giãn của chi phí marketing và đối chiếu tỷ trọng các dòng sản phẩm của BIDV – HCM với 100 tổ chức tín dụng đang cạnh tranh gay gắt trên cùng địa bàn TP.HCM.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tín dụng bán lẻ tại BIDV – HCM có sự tăng trưởng nhưng thiếu tính đột phá và chưa ổn định. Dư nợ bán lẻ tăng từ 233,233 tỷ đồng năm 2013 lên 746,415 tỷ đồng năm 2017. Mặc dù năm 2015 ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 79,6% (đạt 619,709 tỷ đồng, tăng 274,809 tỷ đồng so với năm 2014), nhưng sau đó lại suy giảm xuống 558,239 tỷ đồng vào năm 2016 trước khi phục hồi vào năm 2017.

Thứ hai, cơ cấu sản phẩm mất cân đối nghiêm trọng. Sản phẩm cho vay hỗ trợ nhà ở luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 40% đến 60,97% tổng dư nợ, đạt 308,985 tỷ đồng vào cuối năm 2017 (tăng 51% so với đầu năm). Ngược lại, sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp sụt giảm liên tục tới 68,3% trong 5 năm, từ mức 24,218 tỷ đồng (chiếm 10,17% năm 2013) rơi xuống vỏn vẹn 7,674 tỷ đồng vào năm 2017 (chỉ còn chiếm khoảng 1,03%).

Thứ ba, sự đứt gãy và phân hóa mạnh mẽ giữa các dòng sản phẩm thứ cấp. Cho vay du học gần như bị tê liệt khi dư nợ năm 2014 và 2016 bằng 0 đồng, năm 2017 chỉ đạt 1,003 tỷ đồng. Trái lại, sản phẩm cho vay thấu chi tài khoản có sự bứt phá mạnh từ 564 triệu đồng năm 2013 lên 16,167 tỷ đồng năm 2017, tăng trưởng hơn 66% riêng trong năm 2017.

Thứ tư, hiệu quả đầu tư marketing chưa tương xứng với tăng trưởng dư nợ. Tổng chi phí truyền thông của chi nhánh tăng gần gấp 4 lần, từ 5 tỷ đồng năm 2013 lên hơn 19 tỷ đồng năm 2017, và riêng 6 tháng đầu năm 2018 đã tiêu tốn 14 tỷ đồng. Tuy nhiên, ngân sách chủ yếu phân bổ vào kênh truyền thống như quảng cáo truyền hình (3 tỷ đồng) và băng rôn, tờ rơi (1,5 tỷ đồng), khiến độ phủ đến khách hàng trẻ tuổi bị hạn chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng lệch pha cơ cấu là do BIDV – HCM áp dụng chính sách kiểm soát rủi ro quá chặt chẽ và cục bộ. Chi nhánh giới hạn đối tượng vay tín chấp và thấu chi chỉ dành cho cán bộ nội bộ BIDV hoặc nhân sự quản lý tại các doanh nghiệp đối tác lớn, bỏ lỡ phân khúc khách hàng đại chúng có thu nhập ổn định tại đô thị.

Đối với sản phẩm cho vay du học, sự thụ động trong việc liên kết với các trung tâm tư vấn du học khiến chi nhánh thất thế hoàn toàn trước sự năng động của các ngân hàng thương mại cổ phần như ACB, Sacombank hay Eximbank.

Khi quan sát diễn biến dữ liệu qua đồ thị đường biểu diễn dư nợ tiêu dùng tín chấp giai đoạn 2013 – 2017, độ dốc đi xuống liên tục từ 24,218 tỷ đồng về 7,674 tỷ đồng phản ánh sự thu hẹp thị phần rõ rệt. Đồng thời, bảng tổng hợp kết quả khảo sát 197 khách hàng cho thấy nhu cầu thấu chi tài khoản chiếm tỷ lệ cao nhất với 18,8% (37 người), theo sau là vay mua nhà 16,8% (33 người), vay hộ kinh doanh 16,2% (32 người) và cầm cố giấy tờ có giá 15,7% (31 người). Điều này chỉ ra khoảng cách rất lớn giữa nhu cầu thực tế của thị trường và chính sách cung ứng sản phẩm của chi nhánh.

Mặt khác, trong khi các đối thủ đã triển khai quy trình vay trực tuyến tự động, hệ thống công nghệ của BIDV giai đoạn này chỉ dừng lại ở các tiện ích bổ trợ như BIDV SmartBanking hay BIDV Pay+ mà chưa tích hợp quy trình cấp tín dụng số khép kín.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc và mở rộng đối tượng cấp tín dụng tiêu dùng và thấu chi tín chấp. Ban Giám đốc và Phòng Khách hàng cá nhân cần dỡ bỏ rào cản chỉ cho vay nội bộ, xây dựng gói tín chấp linh hoạt theo thang bảng lương cho nhân viên văn phòng và hộ kinh doanh cá thể. Mục tiêu nâng tỷ trọng dư nợ tín chấp từ mức 1,03% năm 2017 lên mức 8% - 10% tổng dư nợ bán lẻ trước quý IV/2020.

Thứ hai, đẩy mạnh số hóa toàn diện quy trình cấp tín dụng bán lẻ. Phòng Công nghệ thông tin phối hợp với Bộ phận Quản trị tín dụng tích hợp tính năng chấm điểm tín dụng tự động và giải ngân thấu chi trực tuyến 100% trên ứng dụng BIDV SmartBanking. Thời gian hoàn thành thử nghiệm trong vòng 6 - 9 tháng, hướng tới cắt giảm thời gian phê duyệt hồ sơ từ vài ngày xuống dưới 30 phút.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới liên kết chiến lược nhằm vực dậy sản phẩm cho vay du học và hoàn thiện gói vay nhà ở. Phòng Khách hàng cá nhân cần chủ động ký kết hợp đồng hợp tác toàn diện với tối thiểu 15 trung tâm tư vấn du học uy tín tại TP.HCM trong năm 2019, đặt mục tiêu đưa dư nợ cho vay du học vượt mốc 10 tỷ đồng. Đồng thời, chi nhánh cần tách bạch rõ ràng giữa sản phẩm vay mua nhà dự án và vay xây dựng, sửa chữa nhà để áp dụng lãi suất ưu đãi cạnh tranh.

Thứ tư, tái phân bổ ngân sách và chuyển dịch mạnh mẽ sang tiếp thị số (Digital Marketing). Bộ phận Marketing cần chuyển đổi ít nhất 40% chi phí truyền thông (tương đương khoảng 7 - 8 tỷ đồng trên tổng ngân sách hơn 19 tỷ đồng) sang các kênh mạng xã hội, tiếp thị qua công cụ tìm kiếm và thông điệp cá nhân hóa trên ứng dụng di động thay vì chi quá nhiều cho băng rôn, tờ rơi truyền thống.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu và tính ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý chi nhánh ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp bài học thực tiễn về việc tái cân bằng danh mục tài sản, kiểm soát rủi ro tập trung vào bất động sản và phương thức chuyển dịch cơ cấu tín dụng bán lẻ trong các chi nhánh quy mô lớn trên 20.000 tỷ đồng tài sản.

Thứ hai, Chuyên viên phát triển sản phẩm và chuyên viên tín dụng bán lẻ. Các nhà thực hành có thể tham khảo trực tiếp phương pháp đóng gói sản phẩm cho vay du học, vay thấu chi tín chấp và cách thức tận dụng hệ sinh thái khách hàng doanh nghiệp sẵn có để khai thác chéo dịch vụ bán lẻ.

Thứ ba, Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng. Tài liệu là một hình mẫu chuẩn mực về việc áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (problem-solving), tích hợp chuỗi dữ liệu thực tế 5 năm (2013 – 2017) cùng kỹ thuật khảo sát 197 mẫu định lượng để giải quyết bài toán kinh doanh cụ thể.

Thứ tư, Chuyên gia tư vấn chiến lược và chuyên gia Marketing tài chính. Luận văn cung cấp góc nhìn thực chứng về việc tối ưu hóa chi phí truyền thông 19 tỷ đồng, làm rõ sự cần thiết của việc chuyển đổi từ tiếp thị đại trà sang tiếp thị số nhắm trúng phân khúc khách hàng đô thị.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến dư nợ tín dụng bán lẻ tại BIDV – HCM chưa tương xứng với quy mô tổng tài sản là gì? Nguyên nhân chủ yếu do chi nhánh gia nhập thị trường bán lẻ muộn và tư duy kinh doanh còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ tín dụng bán buôn truyền thống. Danh mục sản phẩm còn nghèo nàn, cơ cấu lệch hẳn về cho vay nhà ở (chiếm trên 40% đến 60,97%), trong khi các mảng sản phẩm có biên lợi nhuận cao như tín chấp chỉ đạt 7,674 tỷ đồng năm 2017.

Tại sao sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp lại giảm mạnh hơn 68% trong giai đoạn 2013 – 2017? Sự sụt giảm mạnh từ 24,218 tỷ đồng năm 2013 xuống 7,674 tỷ đồng năm 2017 xuất phát từ chính sách siết chặt đối tượng cho vay của chi nhánh. BIDV – HCM chỉ áp dụng cấp tín chấp cho cán bộ nội bộ ngân hàng và lãnh đạo doanh nghiệp thân thiết, gần như bỏ ngỏ thị trường tiêu dùng cá nhân rộng lớn bên ngoài.

Nhu cầu thực tế của khách hàng tại BIDV – HCM phân bổ như thế nào qua khảo sát thực nghiệm? Kết quả khảo sát 197 khách hàng cho thấy nhu cầu vay thấu chi tài khoản chiếm tỷ lệ cao nhất với 18,8% (37 lượt), theo sau là vay mua nhà với 16,8% (33 lượt), vay vốn hộ kinh doanh 16,2% (32 lượt) và vay cầm cố giấy tờ có giá 15,7% (31 lượt). Điều này chứng minh tiềm năng cho vay thấu chi là rất lớn.

Hạn chế lớn nhất trong việc ứng dụng công nghệ vào sản phẩm bán lẻ tại chi nhánh thời điểm nghiên cứu là gì? Chi nhánh đã triển khai các ứng dụng số như BIDV SmartBanking hay BIDV Pay+ nhưng chỉ dừng ở các dịch vụ hỗ trợ thanh toán, tra cứu số dư và chuyển khoản. Chi nhánh chưa có sản phẩm tín dụng số trực tuyến hoàn chỉnh như phê duyệt hồ sơ vay tự động hay giải ngân online giống các đối thủ Sacombank hay Vietinbank.

Chi phí marketing hơn 19 tỷ đồng mỗi năm của BIDV – HCM bộc lộ bất cập gì? Mặc dù chi phí tăng từ 5 tỷ đồng năm 2013 lên hơn 19 tỷ đồng năm 2017, nhưng hiệu quả mang lại chưa tương xứng do phân bổ sai kênh. Chi nhánh chi quá nhiều vào kênh truyền thống như 3 tỷ đồng quảng cáo truyền hình và 1,5 tỷ đồng in ấn băng rôn, tờ rơi mà thiếu hẳn các chiến dịch tiếp thị số trên mạng xã hội.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về phát triển sản phẩm tín dụng bán lẻ và quản trị danh mục cho vay tại ngân hàng thương mại.
  • Phản ánh trung thực bức tranh thực trạng tăng trưởng từ 233,233 tỷ đồng lên 746,415 tỷ đồng dư nợ bán lẻ, đồng thời chỉ rõ sự mất cân đối khi cho vay mua nhà chiếm trên 40% còn vay tín chấp chỉ chiếm 1,03%.
  • Xác lập mối liên hệ giữa nhu cầu của 197 khách hàng khảo sát với các điểm nghẽn trong chính sách hạn chế đối tượng cho vay thấu chi và tiêu dùng.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đột phá kết hợp giữa tái cấu trúc sản phẩm, mở rộng đối tượng và ứng dụng công nghệ ngân hàng số giai đoạn 2019 – 2021.
  • Định hướng giải pháp tối ưu hóa ngân sách truyền thông 19 tỷ đồng chuyển dịch sang tiếp thị đa kênh số hóa.

Về kế hoạch triển khai, BIDV – HCM cần hoàn thiện việc nới lỏng chính sách cho vay tín chấp và ký kết đối tác du học trong năm 2019, đồng thời hoàn thành nâng cấp nền tảng cho vay trực tuyến trước năm 2021. Đề tài mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong chấm điểm tín dụng tự động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Quý độc giả và các nhà quản lý quan tâm có thể khai thác sâu các giải pháp trong luận văn để áp dụng vào thực tiễn quản trị tín dụng bán lẻ.