Chương I Điều 5 Mục 3, là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam. Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để viết. Tuy nhiên, hiện chưa có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước quy định giọng chuẩn và quốc tự của tiếng Việt. Hiện nay phần lớn các văn bản trong nước được viết theo những "Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt" áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục nêu tại Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc trong mọi lĩnh vực xã hội.
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp [32, tr. 10 download by : skknchat@gmail.com Đặc điểm ngữ âm: Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là "tiếng". Về mặt ngữ âm, mỗi tiếng là một âm tiết.
Hệ thống âm vị tiếng Việt phong phú và có tính cân đối, tạo ra tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa. Nhiều từ tượng hình, tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc. Khi tạo câu, tạo lời, người Việt rất chú ý đến sự hài hoà về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn [32, tr. Đặc điểm từ vựng: Mỗi tiếng, nói chung, là một yếu tố có nghĩa.
Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt. Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng,. chủ yếu nhờ phương thức ghép và phương thức láy [28, tr.57] Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật kết hợp ngữ nghĩa, ví dụ: đất nước, máy bay, nhà lầu xe hơi, nhà tan cửa nát. Hiện nay, đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng.
Theo phương thức này, tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn từ các ngôn ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới, ví dụ: tiếp thị, karaoke, thư điện tử (e-mail), thư thoại (voice mail), phiên bản (version), xa lộ thông tin, siêu liên kết văn bản, truy cập ngẫu nhiên,… Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ âm chi phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng, chẳng hạn: chôm chỉa, chỏng chơ, đỏng đa đỏng đảnh, thơ thẩn, lúng lá lúng liếng,… Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết, một tiếng). Sự linh hoạt trong sử dụng, việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ, vừa phong phú về số lượng, vừa đa dạng trong hoạt động. Cùng một sự vật, hiện tượng, một hoạt động hay một đặc trưng, có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị. Tiềm năng của vốn từ ngữ tiếng Việt được phát huy cao độ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của khoa học-kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, thì tiềm năng đó còn được phát huy mạnh mẽ hơn. Đặc điểm ngữ pháp: Từ của tiếng Việt không biến đổi hình thái. Đặc điểm này sẽ chi phối các đặc điểm ngữ pháp khác. Khi từ kết hợp từ thành các kết cấu như ngữ, câu, tiếng Việt rất coi trọng phương thức trật tự từ và hư từ [24, tr.
11 download by : skknchat@gmail. Phát triển, phát triển ngôn ngữ tiếng Việt 1. Phát triển Có rất nhiều lĩnh vực khoa học, giáo dục quan tâm nghiên cứu nhưng trước hết và quan trọng nhất vẫn là triết học. Trong đó, triết học duy vật lịch sử, triết học duy vật biện chứng mácxit đã chỉ ra và xây dựng được phép biện chứng khoa học hiện đại với tư cách là học thuyết có nội dung toàn diện, sâu sắc nhất về sự phát triển.
Đó là học thuyết về các quy luật chung nhất của sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự phát triển có quan hệ mật thiết với sự vận động bên trong sự vật và chịu sự tác động của những yếu tố khách quan bên ngoài. Phát triển là một tiến trình có những bước nhảy vọt đột biến. Nó là sự phát triển lâu dài của một quá trình bởi những kích thích nội tại do sự mâu thuẫn và xung đột giữa những lực lượng và xu thế khác nhau đang tác động vào sự vật hiện tượng nhất định.
Khái niệm phát triển có liên quan đến nhiều vấn đề, nhưng ở luận văn này vấn đề được giới hạn lại là phát triển trong con người HS. Triết học nhân văn hiện đại đã có một bước tiến vượt bậc khi chú trọng đến sự phát triển và khẳng định giá trị của cá tính độc đáo ở mỗi cá nhân. Do vậy, tri thức khoa học là các thang bậc của nhận thức phát triển theo lịch sử. Nội dung của nó phụ thuộc vào sự phát triển trước đó và chỉ thông qua mối quan hệ đó nó mới phản ánh đối tượng nghiên cứu bằng một phương pháp nhất định.
Có thể nói quá trình nhận thức là quá trình phát triển cùng với tự ý thức, tự phát triển. Trong giáo dục và đào tạo ở nhà bậc mầm non, chức năng nhận thức bao gồm tri thức và cả tư duy với tư cách là sự tổ chức vật chất của bộ óc vẫn không bao giờ được xem nhẹ. Tự phát triển bằng nội lực, hay phát triển từ những tác động ngoại tại thì hoạt động phản ánh sự tồn tại riêng mang cá tính và sản phẩm của hoạt động đó là giá trị của mỗi cá nhân phát triển đạt được. Trong phạm vi đề tài có thể hiểu: Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.
Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo 12 download by : skknchat@gmail.com đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn. Phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt Phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt là quá trình trẻ lĩnh hội chức năng và cấu trúc của ngôn ngữ và cùng với ngôn ngữ là các qui ước của xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ và tiếp nhận suy nghĩ, cảm xúc và ý tưởng. Việc lĩnh hội ngôn ngữ bao gồm sự lĩnh hội 3 khía cạnh cơ bản sau của ngôn ngữ: (1) nội dung (vốn từ và nghĩa của từ); (2) hình thái hay cấu trúc (ngữ pháp và cú pháp); và (3) chức năng của ngôn ngữ.
Giáo dục phát triển ngôn ngữ được hiểu là nội dung giáo dục nhằm nâng cao sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng giao tiếp hiệu quả cũng như những kỹ năng tiền đọc, tiền viết ban đầu của trẻ. Trẻ em 5 -6 tuổi người dân tộc thiểu số Theo Luật giáo dục (2005), tại Điều 21: “Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi” [43]. Khái niệm trẻ em mầm non là trẻ có độ tuổi từ 03 tháng đến 6 tuổi. Nhóm tuổi của trẻ ở trường mầm non được phân thành 2 nhóm tuổi chính là giáo dục nhà trẻ từ 03 tháng đến 3 tuổi và giáo dục mẫu giáo có độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi.
Như vậy, trẻ mầm non là trẻ có độ tuổi từ 03 tháng đến 6 tuổi [22, tr. Trẻ giai đoạn 5, 6 tuổi là trẻ nằm trong độ tuổi từ 60 đến 72 tháng. Đây là lứa tuổi cuối bậc mầm non, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh, đạt chất lượng cao về phát âm, vốn từ và các hình thức ngữ pháp. Đây là điều kiện cơ bản để hoàn thiện chức năng tâm lý người.
Trẻ em 5- 6 tuổi người DTTS là trẻ mầm non ở độ tuổi 5 - 6 tuổi không thuộc dân tộc Kinh [22, tr. Quản lý, quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ 5 -6 tuổi người dân tộc thiểu số 1. Quản lý Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Về nội dung, thuật ngữ “quản lý” được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau.
Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm đảm bảo 13 download by : skknchat@gmail.com mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt được kết quả cao nhất” [24]. Theo Nguyễn Lộc: “Quản lý là những hành động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu” [34]. Tuy có nhiều khái niệm, quan điểm về quản lý khác nhau nhưng xét trên tổng thể có thể khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đảm bảo sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu của chủ thể quản lý. Các khái niệm trên đây, tuy khác nhau về cách diễn đạt, song có chung những nét đặc trưng cơ bản chủ yếu sau đây: Thứ nhất, hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
Thứ hai, hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích. Thứ ba, hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.