Chương 1: Cơ sở khoa học của định hướng phát triển năng lực đọc hiểu cho HS qua dạy học đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Chương 2:Đề xuất phát triển năng lực đọc hiểu cho HS qua dạy học đoạn trích Đất Nước Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƢỚC” 1.Khái niệm năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên), năng lực có thể được hiểu theo hai nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó;(2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao [28, tr. Từ hai định nghĩa trên, người đọc có thể hiểu năng lực vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa ở dạng hiện thực, thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Trong Tâm lí học, khái niệm năng lực thường được định nghĩa như sau: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo, học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Theo định nghĩa của PISA: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”.
Định nghĩa này và định nghĩa của Weinert giúp người đọc hiểu ba yếu tố: kiến thức, kĩ năng và thái độ phải được người học vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực. Dù theo định nghĩa của Tâm lí học hay của PISA thì chúng ta có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm “năng lực” chính là khả năng nhận thức và vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ trong 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học tập và trong thực tiễn cuộc sống. Tùy theo năng lực của mỗi con người mà hiệu quả vận dụng, nhận thức cao hay thấp. Và chúng ta cũng nhận thấy, năng lực của HS PT bao hàm: những kĩ năng, kĩ xảo, những kinh nghiệm, khả năng vận dụng kiến thức, thái độ… để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập, các vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống thực tế của cuộc sống.
Như vậy, năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Năng lực trong dạy học môn Ngữ văn 1. Các năng lực chung cốt lõi cần hình thành cho HS phổ thông Theo dự thảo Chương trình phổ thông tổng thể sau 2015, những năng lực chung cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông bao gồm: - Năng lực tự học; - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; - Năng lực thẩm mỹ; - Năng lực thể chất; - Năng lực giao tiếp; - Năng lực hợp tác; - Năng lực tính toán; - Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) [3]. Năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn Trong giáo trình PPDH văn tập 2, cố GS Phan Trọng Luận đã rất quan tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học văn chương.
Tác giả cho rằng: “có 3 loại năng lực văn chương: năng lực sáng tạo, năng lực phê bình và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là năng lực cần hình thành cho HS” [21, tr. Có quan niệm cho rằng, năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn gồm: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năng lực giải quyết vấn đề - Năng lực sáng tạo - Năng lực hợp tác - Năng lực tự quản bản thân - Năng lực giao tiếp tiếng Việt - Năng lực thưởng thức văn học /cảm thụ thẩm mỹ [2, tr. 50- 56] TS Phạm Minh Diệu trong bài “Bàn về năng lực chuyên biệt trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông” tiếp nối quan niệm trên và cho rằng, các năng lực cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS trong môn Ngữ văn gồm: năng lực đọc hiểu (tương ứng: tiếp nhận văn bản), năng lực làm văn (tương ứng: tạo lập văn bản); cả hai năng lực cơ bản này đều được xác định ở mức độ phổ thông, gọi là “năng lực phổ thông” [6, tr 54]. Năng lực đọc hiểu và phát triển năng lực đọc hiểu môn Ngữ văn của HS THPT 1.
Quan niệm về năng lực đọc hiểu : Đã có nhiều quan niệm khác nhau về đọc hiểu: Hai CT đánh giá năng lực đọc hiểu quốc gia gần đây là IEA/RLS(The International Association for the Evaluation of Educational Achievement’s Reading Literacy Study)và IALS(The International Adult Literacy Survey) thực hiện cùng cục khảo thí Canada và OECD, cũng đã nhấn mạnh chức năng, bản chất cuả việc đọc: “Khả năng hiểu và sử dụng những hình thức ngôn ngữ bằng văn bản do yêu cầu của xã hội và nhu cầu của cá nhân”[25, tr. IALS cũng nhấn mạnh bản chất của đọc hiểu và đặc biệt là tiềm năng của nó trong sự phát triển của mỗi các nhân và toàn xã hội. Định nghĩa này tập trung vào nội dung thông tin hơn là hình thức ngôn ngữ. Khái niệm năng lực đọc hiểu được định nghĩa là: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Sử dụng thông tin của văn bản viết và in để hoạt động trong xã hội, để đạt mục tiêu cá nhân và phát triển kiến thức, tiềm năng của mỗi cá nhân”[25, tr.
Những khái niệm về đọc hiểu này nhấn mạnh khả năng của người đọc trong việc sử dụng các văn bản viết tay và in ấn cho việc thực hiện các đòi hỏi của xã hội hay giá trị của cá nhân để phát triển kiến thức, tiềm năng của họ. Các khái niệm trên đã đơn giản hóa việc giải mã và hiểu theo nghĩa đen với hàm ý rằng đọc hiểu bao gồm việc hiểu và sử dụng thông tin của văn bản cho các mục đích cụ thể. Tuy nhiên các khái niệm lại không nhấn mạnh vai trò chủ động và tích cực của người đọc trong hiểu biết và sử dụng thông tin. PISA 2009 đã bổ sung định nghĩa về đọc hiểu phổ thông cho phù hợp với yêu cầu đọc hiểu của HS lứa tuổi 15: “Đọc hiểu phổ thông là việc hiểu biết, sử dụng phản ánh lên và tạo hứng thú, thói quen đọc các văn bản viết, nhằm mục đích để đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng, và để tham gia vào xã hội”[36, tr.
CT PISA 2009 cho rằng các văn bản điện tử phổ biến ở nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của chúng ta trên các phương diện cá nhân, xã hội và kinh tế. CT đã đi đến kết luận đọc hiểu rằng bất kỳ định nghĩa nào của đọc hiểu trong thế kỷ 21 cần phải bao gồm cả văn bản in và văn bản điện tử. Ở Việt Nam, người có thể coi là đặt nền móng đầu tiên cho vấn đề đọc hiểu là GS. Nguyễn Thanh Hùng quan niệm : “Đọc - hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn’’.“Đọc - hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc - hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc”.
“Đọc –hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học. Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hoạt động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ. Đọc chính xác thì hiểu đúng. Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu.
Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình. Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới”. Đồng thời, tác giả đi vào lí giải nội hàm của ”hiểu”: ”Hiểu là phát hiện và nắm vững 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống.
Hiểu tức là phải trả lời câu hỏi : Cái gì ? Như thế nào ? Vì sao ? Làm như thế nào ? Đó là biết và làm trong đọc hiểu. Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn”. Từ đó, tác giả nêu lên những nội dung cần ”hiểu” trong tác phẩm văn học với các tiêu chí cụ thể : ”Khám phá ý nghĩa nội dung chứa đựng trong văn bản. Ý nghĩa này do tác giả bày tỏ, biểu lộ trong văn bản.
Hiểu mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả xây dựng và tổ chức nên. Khẳng định mục đích, ý đồ, nội dung thực hiện, tiền giả định. Đánh giá tư tưởng của tác giả. Sáp nhập, hòa đồng thông tin và tư tưởng của tác giả với tri thức và kinh nghiệm phù hợp của người đọc”[14, tr.
Trần Đình Sử nêu quan điểm : “Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”. GS cũng nhấn mạnh vai trò của đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông : “Dạy văn là dạy cho HS năng lực đọc, kĩ năng đọc để giúp các em hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại. Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể hiện các tư tưởng và các cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính”; đồng thời tác giả cho rằng : “Một, đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất phải hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản); phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản. Hai, đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hóa).
Ba, đọc là quá trình tiêu dùng văn hóa văn bản (hưởng thụ, giải trí, học tập). Bốn, đọc là quá trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu văn hóa và hiểu thế giới).