Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG 1. Khái niệm chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên và chi trả dịch vụ môi trường rừng 1. Khái niệm chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên Trước khi tìm hiểu khái niệm chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên (HSTTN), chúng ta cần làm rõ HSTTN và dịch vụ HSTTN là gì? Hệ sinh thái (HST) bao gồm quần xã sinh vật và khu vực sống của quần xã (sinh cảnh). Trong HST, các sinh vật luôn luôn tác động lẫn nhau và tác động qua lại với các nhân tố vô sinh của môi trường tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh và tương đối ổn định.
Ví dụ: Trong một ao nước có nhiều loại rong rêu, cây khác nhau. Những động vật ăn thực vật hoặc ăn thịt các loài động vật khác. Các sinh vật trong ao phụ thuộc lẫn nhau và tác động với môi trường sống của chúng rất chặt chẽ tạo thành HST. Có nhiều cách phân loại HST, tuy nhiên dựa vào thành phần cấu tạo, HST được phân loại thành: HSTTN và HST nhân tạo.
Hiện nay, Khoản 10 Điều 3 Luật đa dạng sinh học năm 2008 giải thích HSTTN là HST hình thành, phát triển theo quy luật tự nhiên, vẫn còn giữ được các nét hoang sơ nhưng chưa có quy định thế nào là dịch vụ HSTTN. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả do bản chất HSTTN là một dạng của “vốn tự nhiên”, vẫn còn giữ được những nét hoang sơ, chưa có sự tác động của bàn tay con người nên nó là những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp từ HSTTN mà con người có thể khai thác, sử dụng. Chẳng hạn như rừng thì cung cấp những giá trị phòng hộ đầu nguồn, cảnh quan, là bể chứa các-bon, bảo tồn những giá trị đa dạng sinh học,…. Các khu bảo tồn, vườn quốc gia (VQG) sở hữu giá trị về các loài quý hiếm, các nguồn gen quý, cảnh quan du lịch, khu vui chơi giải trí,.
Đồng thời, Khoản 2 Điều 138 Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) năm 2020 liệt kê các loại dịch vụ HSTTN, gồm: (i) DVMTR của HST rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp; (ii) Dịch vụ HST đất ngập nước phục vụ mục đích kinh doanh du lịch, giải trí, nuôi trồng thủy sản; (iii) Dịch vụ HST thái biển phục vụ mục đích kinh doanh du lịch, giải trí, nuôi trồng thủy sản; (iv) Dịch vụ HST núi đá, hang động và công viên địa chất phục vụ mục đích kinh doanh du lịch, giải trí; 11 (v) Dịch vụ HSTTN phục vụ mục đích hấp thụ và lưu trữ các-bon (trừ dịch vụ HST đất ngập nước phục vụ mục đích kinh doanh du lịch, giải trí, nuôi trồng thủy sản) là khu vực HST ngập nước và HST biển. Với cách quy định trên, dịch vụ HSTTN được hiểu là những lợi ích (trực tiếp hoặc gián tiếp) mà con người có thể khai thác, sử dụng từ các dịch vụ thành phần HST đã được liệt kê tại Khoản 2 Điều 138 Luật BVMT năm 2020. Trên thế giới, một số quốc gia như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Costa- Rica không quy định thế nào là dịch vụ HSTTN thay vào đó họ đều ghi nhận khái niệm dịch vụ HST. Dịch vụ HST (Ecosystem Services) được hiểu là những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con người được hưởng từ các chức năng của HST.
Dựa vào vai trò, chức năng khác nhau của HST, các nhà sinh thái học đã phân thành các nhóm chức năng hay các loại dịch vụ. Phổ biến nhất là cách phân loại của tổ chức Forest Trend, dịch vụ HST phân thành 4 nhóm chức năng, bao gồm: - Dịch vụ cung cấp: thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, nhiên liệu, sợi, nguồn gen; - Dịch vụ điều tiết: phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hoà khí hậu, điều tiết nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh; - Dịch vụ hỗ trợ: kiến tạo đất, tái tạo dinh dưỡng, điều hòa dinh dưỡng, sản xuất cơ bản; - Dịch vụ văn hoá: giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịch sinh thái, lịch sử, khoa học và giáo dục1,… Hay theo Luật Lâm Nghiệp số 7576 năm 1996 của Costa-Rica dịch vụ HST lại được chia thành: - Dịch vụ giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính; - Dịch vụ thủy văn, bao gồm: cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu và sản xuất năng lượng; - Dịch vụ bảo tồn đa dạng sinh học; - Bảo vệ cảnh quan để nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái. Theo tác giả đánh giá, DVMTR, dịch vụ HST hay dịch vụ HSTTN đều tổ hợp của các HST thành phần như: HST rừng, HST đất ngập nước, HST biển,.với các dịch vụ tương ứng hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên; dịch vụ giảm 1 Forest Trend, Katoomba, UNEP (2008), Cẩm nang Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (bản dịch ra tiếng Việt) 12 thiểu sự phát thải khí nhà kính và bảo vệ cảnh quan để nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái,… Bên cạnh đó, pháp luật một số quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam) có điểm tương đồng là đều trao cho chủ thể quyền khai thác, sử dụng dịch vụ HST, đổi lại chủ thể sử dụng có nghĩa vụ trả tiền cho người cung ứng dịch vụ một khoản tiền tương xứng với hành vi khai thác, sử dụng của mình. Người cung ứng dịch vụ sử dụng số tiền này để duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của HST.
Trên thực tế, ngoài khái niệm được dùng phổ biến là chi trả dịch vụ môi trường (DVMT), nhiều tác giả vẫn dùng những tên gọi khác, như: chi trả dịch vụ HST (Payments For Environmental Services- PES); đền đáp DVMT (Reward For Environmental Services-WES); thương mại DVMT (Market For Environmental Services-MES); bồi thường DVMT (Compensation For Environmental Services-CES); hay dịch vụ HSTTN. Nhưng dù dùng tên gọi nào thì chúng cũng đều giống nhau về bản chất nên có thể sử dụng thay thế nhau. Chi trả dịch vụ HST không phải là một khái niệm xa lạ. Ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, chính sách chi trả DVMT đã được xây dựng và thực hiện trên thế giới.
So với các chương trình phát triển và bảo tồn tích hợp (ICDPs 2) thì chi trả dịch vụ HST mang lại nhiều tác động tích cực cho môi trường. Nó được đánh giá là một công cụ kinh tế hiệu quả khi huy động nguồn kinh phí từ xã hội, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người cung cấp dịch vụ mà nó còn mang lại lợi ích bền vững cho cả đối tượng sử dụng dịch vụ. Hiện nay có nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa khác nhau về chi trả DVMT, trong số đó có Tổ chức Liên minh Bảo tồn Thế giới (IUCN)3 giải thích rằng: “Chi trả DVMT được hiểu là người mua (tự nguyện) đồng ý trả tiền hoặc các 2 CDP (Intergrated Conservation and Projects - Chương trình phát triển và bảo tồn tích hợp): Là dự án bảo tồn đa dạng sinh học kết hợp với phát triển vùng nông thôn. Mục tiêu của ICDP là kết hợp giữa phát triển xã hội với mục tiêu bảo tồn.
ICDP hướng tới việc giải quyết vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học dựa trên những công cụ kinh tế - xã hội. ICDP lần đầu được giới thiệu bởi WWF vào giữa những năm 1980 với việc sử dụng cách tiếp cận “fines and fences” trong bảo tồn - Theo https://en.org/wiki/Integrated_Conservation_and_Development_Project. 3 Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên, viết tắt là IUCN, từ năm 1990 tới tháng 3 năm 2008 còn được gọi bằng tên gọi khác là World Conservation Union – tức là Liên minh Bảo tồn Thế giới, là một tổ chức bảo vệ thiên nhiên, được biết đến qua việc công bố cuốn Sách đỏ hàng năm, nhằm cảnh báo thế giới về tình trạng suy thoái môi trường thiên nhiên trên toàn cầu, và những tác động của con người lên sự sống của Trái Đất 13 khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái xác định”4. Còn nghiên cứu của tổ chức Forest Trends, Katoomba Group and UNEP lý giải chi trả DVMT là một cách tiếp cận tương đối mới dưới góc độ kinh tế: “Là việc các chủ thể sử dụng trả tiền cho những người giúp duy trì hoặc cung cấp các DVMT (bên cung cấp dịch vụ)”.
Tương tự, tác giả Seven Wunder5 cũng cho rằng chi trả DVMT mang đặc điểm: - Một giao dịch tự nguyện, trong đó: DVMT được xác định rõ ràng, hoặc một hình thức sử dụng đất để duy trì dịch vụ đó - Được mua bởi ít nhất một người mua - Được cung cấp bởi ít nhất một người cung cấp - Khi và chỉ khi người cung cấp liên tục dịch vụ đó (tính điều kiện)6. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu chi trả DVMT là quan hệ mua bán dựa trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Trên cơ sở tiếp thu cơ sở lý thuyết của các quốc gia, tổ chức trên thế giới, khi Luật BVMT năm 2020 ra đời, khái niệm chi trả dịch vụ HSTTN đã được Luật hóa thành: “Chi trả dịch vụ HSTTN là việc tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ HSTTN trả tiền cho tổ chức, cá nhân cung ứng giá trị môi trường, cảnh quan do HSTTN tạo ra để bảo vệ, duy trì và phát triển HSTTN7”. Như vậy, việc khái niệm hóa chi trả dịch vụ HSTTN tại Luật BVMT năm 2020 có ý nghĩa quan trọng trong việc sắp xếp các loại hình dịch vụ HSTTN sao cho phù hợp, nhằm phục vụ cho Nhà nước thực hiện việc phân quyền cho “tổ chức, cá nhân cung ứng giá trị môi trường, cảnh quan do HSTTN tạo ra để bảo vệ, duy trì và phát triển HSTTN”.
Đồng thời tạo nền tảng vững chức để có cơ sở chi trả các dịch vụ thành phần của HSTTN tại Khoản 2 Điều 138 Luật BVMT năm 2020. Lúc này chương trình chi trả dịch vụ HSTTN mang tư cách là một công cụ kinh tế thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, thông qua việc yêu cầu người hưởng lợi từ các dịch vụ HST phải trả tiền cho hành vi sử dụng của mình. 4 Sven Wunder (2005), Payments for Environmental services: Some nuts and bolds. CIFOR Occasional Paper No.
5 Nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm nghiên cứu Lâm Nghiệp quốc tế - CIFOR 6 Sven Wunder (2005), Payments for Environmental services: Some nuts and bolds. CIFOR Occasional Paper No. 7 Điều 38 Luật BVMT năm 2020 14 1.