Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Phú Thọ hiện sở hữu hơn 16.200 ha diện tích trồng chè, đứng thứ tư toàn quốc về diện tích và xếp thứ ba về sản lượng búp tươi. Tại huyện miền núi Tân Sơn, cây chè được xác định là cây trồng mũi nhọn với tổng diện tích đạt 3.831 ha vào năm 2019. Mặc dù vậy, ngành chè tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn mới chỉ hình thành từ những năm 2000 với quy mô 118,85 ha phân bố tại 3 xã Xuân Sơn, Xuân Đài và Kim Thượng.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ thực trạng sản xuất phân tán, năng suất bình quân khu vực chỉ đạt 7,76 tấn/ha/năm, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân của các vùng chuyên canh trong tỉnh. Hơn 60% sản lượng chè búp tươi phải bán thô ra ngoài địa bàn với giá trị thương mại thấp, trong khi tỷ lệ hộ nghèo tại vùng lõi xã Xuân Sơn còn ở mức cao khoảng 27,91%.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa lý luận về chuỗi giá trị nông sản, giải phẫu sơ đồ dòng hàng và phân tích hạch toán chi phí - lợi nhuận của từng tác nhân tham gia. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu trải dài từ năm 2018 đến năm 2020, định hướng chiến lược giai đoạn 2020 - 2025. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp cơ sở khoa học giúp tái cơ cấu phân bổ giá trị gia tăng, nâng cao thu nhập cho 2.908 hộ dân vùng đệm và vùng lõi, đồng thời tạo tiền đề xây dựng chỉ dẫn địa lý gắn với du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung phân tích chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) kết hợp với phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị nông nghiệp của Kaplinsky & Morris (2000) và Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO, 2010). Khung lý thuyết này xem xét toàn bộ các mắt xích từ cung ứng vật tư đầu vào, canh tác, thu gom, chế biến cho đến phân phối sản phẩm chè xanh đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

Ba khái niệm học thuật then chốt được sử dụng gồm:

  • Giá trị sản xuất (GO): Toàn bộ giá trị tính bằng tiền của sản lượng chè xanh thu hoạch được trên một đơn vị diện tích trong một chu kỳ sản xuất.
  • Chi phí trung gian (IC): Toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ mua ngoài phục vụ quá trình sản xuất chè.
  • Giá trị gia tăng (VA): Phần chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian (VA = GO - IC), phản ánh đóng góp thực chất của từng tác nhân trong chuỗi.
  • Nâng cấp chuỗi giá trị (Value Chain Upgrading): Quá trình cải tiến quy trình canh tác, nâng cao chất lượng chế biến, đổi mới sản phẩm và thúc đẩy liên kết ngang, liên kết dọc giữa các chủ thể.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Tân Sơn giai đoạn 2010 - 2019, các báo cáo chuyên đề của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng hệ thống chính sách như Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND tỉnh Phú Thọ.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát thực địa. Cỡ mẫu hộ nông dân được xác định theo công thức Slovin với tổng số 156 hộ trồng chè toàn vùng và sai số cho phép 5%, cho ra quy mô mẫu đại diện là 112 hộ (gồm 60 hộ tại Xuân Đài, 40 hộ tại Kim Thượng và 12 hộ tại Xuân Sơn). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện giúp đảm bảo tính đại diện về cơ cấu giống chè và địa hình canh tác. Ngoài ra, nghiên cứu khảo sát trực tiếp 4 đại lý cung ứng vật tư, 4 thương lái thu gom, 6 cơ sở chế biến, 6 đơn vị bán lẻ, 30 người tiêu dùng và 7 cán bộ quản lý nông nghiệp địa phương thông qua phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phỏng vấn sâu.

Phương pháp phân tích kinh tế hạch toán chi phí - doanh thu và phân tích cấu trúc chuỗi giá trị được lựa chọn nhằm đo lường chính xác biên độ lợi nhuận của từng khâu. Phân tích ma trận SWOT được áp dụng để xác định các nút thắt kỹ thuật, thị trường và định hình giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị trong mốc thời gian thực hiện 2020 - 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và năng suất canh tác chè còn nhiều hạn chế. Tổng diện tích chè khu vực đạt 118,85 ha với sản lượng hàng năm khoảng 930,5 tấn búp tươi. Năng suất có sự chênh lệch rõ nét giữa các địa bàn: xã Xuân Đài đạt cao nhất với 9,25 tấn/ha/năm, xã Kim Thượng đạt 7,55 tấn/ha/năm, trong khi vùng lõi xã Xuân Sơn chỉ đạt 6,50 tấn/ha/năm. Cơ cấu giống đang chuyển dịch tích cực sang các giống chất lượng cao gồm Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, LDP1 và khoảng 20 ha chè Shan tuyết cổ thụ.

Thứ hai, chuỗi giá trị vận hành qua 4 kênh phân phối chính nhưng thiếu tính liên kết bền vững. Khoảng 65% sản lượng chè búp tươi được bán qua thương lái thu gom trung gian, chỉ 35% được nông dân bán trực tiếp cho các xưởng chế biến. Toàn vùng chỉ có 6 cơ sở chế biến quy mô nhỏ lẻ, công nghệ thủ công, khiến trên 60% tổng sản lượng chè tươi bị vận chuyển ra ngoài vùng để bán cho các xưởng chế biến chè thô tại các xã lân cận với giá rẻ.

Thứ ba, sự phân bổ lợi ích kinh tế trong chuỗi diễn ra bất hợp lý. Người nông dân trồng chè là lực lượng gánh chịu chi phí đầu tư kiến thiết cơ bản lớn (chu kỳ 3 - 4 năm) và nhiều rủi ro thời tiết, nhưng chỉ thu về tỷ suất lợi nhuận ròng thấp nhất trên mỗi kilôgam sản phẩm. Ngược lại, khâu chế biến và bán lẻ thương phẩm chiếm tỷ trọng giá trị gia tăng cao nhất toàn chuỗi nhờ chủ động khâu định giá và đóng gói bao bì.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân bổ giá trị bất cân đối là do người dân thiếu kỹ thuật chế biến sâu, tập quán thu hái lẫn lộn búp già và thiếu các tổ chức kinh tế tập thể như hợp tác xã để đàm phán giá bán. Các dữ liệu khảo sát khi được tổng hợp lên bảng hạch toán tài chính và sơ đồ dòng giá trị đã phản ánh rõ: chi phí trung gian (IC) của hộ trồng chè chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, trong khi tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (TR/TC) của khâu bán lẻ cao gấp nhiều lần khâu canh tác.

Khi so sánh với mô hình chuỗi giá trị chè Tân Cương tại Thái Nguyên (nơi giá trị sau chế biến đạt 250 - 300 triệu đồng/ha) hay chè Shan tuyết Suối Giàng tại Yên Bái, chè xanh Xuân Sơn chưa tận dụng được lợi thế khác biệt về sinh thái rừng tự nhiên. Việc biểu diễn chuỗi qua các sơ đồ luân chuyển vật tư và ma trận SWOT cho thấy điểm nghẽn lớn nhất nằm ở việc vắng bóng thương hiệu tập thể và công nghệ sao sấy chuẩn hóa, khiến sản phẩm bị đánh đồng với các dòng chè thương phẩm đại trà.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cấp toàn diện chuỗi giá trị chè xanh Vườn quốc gia Xuân Sơn trong giai đoạn 2020 - 2025:

Thứ nhất, quy hoạch vùng nguyên liệu và chuẩn hóa kỹ thuật canh tác. Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chủ trì mở rộng diện tích vùng đệm lên trên 150 ha, thay thế triệt để các nương chè cằn cỗi bằng 100% giống mới năng suất cao như Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên và bảo tồn nghiêm ngặt 20 ha chè Shan bản địa. Đặt mục tiêu nâng năng suất bình quân toàn vùng từ 7,76 tấn/ha lên 9,5 tấn/ha vào năm 2025 thông qua quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và tiêu chuẩn VietGAP.

Thứ hai, tổ chức lại sản xuất thông qua mô hình kinh tế tập thể. Khuyến khích các hộ dân thành lập 2 hợp tác xã sản xuất và chế biến chè chuyên nghiệp tại xã Xuân Đài và Kim Thượng trước năm 2023. Hợp tác xã đứng ra ký hợp đồng bao tiêu búp tươi với giá ổn định, giúp cắt giảm 15 - 20% chi phí trung gian từ thương lái thu gom, đồng thời áp dụng chính sách hỗ trợ vốn từ Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Thứ ba, đầu tư công nghệ chế biến và phát triển sản phẩm OCOP. Các cơ sở chế biến cần chuyển đổi từ sao củi thủ công sang máy sao gas, máy hút chân không và công nghệ lên hương hiện đại. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chế biến tinh tại chỗ đạt trên 70% sản lượng chè búp tươi, chuẩn hóa 2 dòng sản phẩm chè xanh cao cấp đạt chứng nhận OCOP 3 sao đến 4 sao cấp tỉnh trong giai đoạn 2023 - 2025.

Thứ tư, xây dựng thương hiệu gắn kết với chuỗi du lịch sinh thái. Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng tour trải nghiệm văn hóa trà của đồng bào Mường, Dao gắn với nguồn khách du lịch sinh thái đạt trên 20.000 lượt khách/năm. Hoàn thiện hệ thống nhận diện thương hiệu, tem truy xuất nguồn gốc mã QR để gia tăng giá bán lẻ thêm 30 - 40%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và góc nhìn ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ khuyến nông: Cung cấp khung số liệu thực tế về cơ cấu sử dụng đất, năng suất và sơ đồ chuỗi ngành hàng chè tại huyện Tân Sơn, làm cơ sở xây dựng đề án quy hoạch nông nghiệp, triển khai chương trình OCOP và phân bổ ngân sách hỗ trợ kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Các hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ chế biến kinh doanh chè: Giúp nhận diện rõ cơ cấu chi phí, biên lợi nhuận của từng kênh phân phối và điểm nghẽn kỹ thuật trong khâu sao sấy, từ đó tối ưu hóa quy trình liên kết tiêu thụ búp tươi và đầu tư công nghệ đóng gói phù hợp thị hiếu thị trường.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học khối ngành Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp case study thực nghiệm hoàn chỉnh về phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị nông sản tại vùng đặc thù, kết hợp phân tích định lượng (hạch toán kinh tế) và định tính (ma trận SWOT, PRA).
  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp giải pháp đa dạng hóa sinh kế cho cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng lõi và vùng đệm, giảm thiểu áp lực khai thác tài nguyên rừng thông qua mô hình nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Chuỗi giá trị chè xanh tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn gồm những kênh phân phối nào? Chuỗi giá trị địa phương vận hành qua 4 kênh chính. Trong đó, kênh nông dân bán trực tiếp cho xưởng chế biến rồi tới người tiêu dùng chiếm 35%, còn kênh qua thương lái thu gom trung gian chiếm tới 65% sản lượng. Việc phụ thuộc vào trung gian khiến giá trị chè tươi bị ép giá đáng kể trước khi đến xưởng chế biến.

Tại sao năng suất chè tại Vườn quốc gia Xuân Sơn chỉ đạt 7,76 tấn/ha? Mức năng suất 7,76 tấn/ha thấp hơn bình quân tỉnh do cây chè mới được đưa vào canh tác từ năm 2000, kỹ năng chăm sóc và đốn tỉa của người dân còn hạn chế. Ngoài ra, địa hình đồi dốc chia cắt mạnh, thời gian chiếu sáng ngắn và điều kiện thiếu nước tưới trong mùa khô cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ sinh trưởng của búp chè.

Các giống chè chủ lực nào đang được trồng tại khu vực nghiên cứu? Khu vực đang canh tác 4 giống chè chính gồm giống chè lai LDP1 năng suất cao, giống Phúc Vân Tiên và Kim Tuyên nhập nội cho hương vị đậm đà, cùng khoảng 20 ha chè Shan tuyết tự nhiên phân bố trên núi cao xã Xuân Sơn. Đây là nguồn gen quý phục vụ phân khúc đồ uống cao cấp.

Tác nhân nào nắm giữ tỷ trọng giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi? Qua tính toán chỉ số giá trị gia tăng (VA = GO - IC), khâu chế biến và bán lẻ nắm giữ biên lợi nhuận cao nhất nhờ làm chủ công đoạn lên hương, đóng bao bì và tiếp cận khách hàng. Ngược lại, người nông dân trực tiếp canh tác chịu chi phí lao động lớn nhưng nhận phần giá trị gia tăng thấp nhất.

Việc gắn kết chuỗi giá trị chè với du lịch Vườn quốc gia Xuân Sơn mang lại lợi ích gì? Với lượng khách du lịch sinh thái đạt khoảng 20.000 lượt mỗi năm, việc kết hợp bán chè đặc sản tại các homestay và tổ chức tour trải nghiệm hái chè giúp tiêu thụ tại chỗ sản phẩm giá trị cao, loại bỏ chi phí trung gian vận chuyển và quảng bá mạnh mẽ bản sắc văn hóa đồng bào Mường, Dao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi giá trị ngành hàng chè xanh quy mô 118,85 ha tại 3 xã thuộc Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • Khảo sát thực tế chỉ ra năng suất bình quân khu vực đạt 7,76 tấn/ha/năm với 4 kênh tiêu thụ chính, trong đó 65% lượng búp tươi phụ thuộc vào thương lái thu gom.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là xây dựng thành công bộ chỉ tiêu hạch toán kinh tế (GO, IC, VA) cho từng mắt xích, chứng minh sự bất đối xứng về lợi ích của người nông dân trồng chè.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp nâng cấp chuỗi giai đoạn 2020 - 2025 định hình rõ lộ trình chuẩn hóa tiêu chuẩn VietGAP, thành lập hợp tác xã và phát triển dòng sản phẩm OCOP chất lượng cao.
  • Độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách có thể ứng dụng trực tiếp mô hình phân tích này để xây dựng chiến lược phát triển nông sản bền vững cho các vùng sinh thái đặc thù trên cả nước.