Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về kinh tế nông hộ 1. Một số khái niệm và đặc điểm của nông hộ * Khái niệm Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước. Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm khác nhau.
Sau đây là một số khái niệm về hộ: Trong từ điển ngôn ngữ mỹ (Oxford Press-1987): “Hộ là tất cả những người sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung” [2]. Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế người ta đã định nghĩa về hộ như sau: “Hộ là tất cả những người sống chung một mái nhà, nhóm người đó bao gồm cả những người cùng chung một huyết tộc và những người làm công”. Trên phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Theo Raul Hunnena giáo sư đại học Tổng hợp Lisbon thì: "Hộ là những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng đồng". Theo Frank Ellis 1988 định nghĩa: "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [2]. Theo giáo sư Đào Thế Tuấn: “Hộ nông dân là những người có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình cho sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào kinh tế thị trường với mức độ hoàn hảo không cao” [7]. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [6].
* Đặc điểm: - Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng. 5 - Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cung tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường. - Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau, khiến cho khó có giới hạn thế nào là một hộ nông dân [4].
Khái niệm, đặc trưng về kinh tế nông hộ *Khái niệm: Thông thường trong mỗi quá trình nghiên cứu về hộ nông dân đều bao hàm cả nghiên cứu về kinh tế nông hộ. Giống như hộ gia đình, hộ nông dân cũng được xác định dưới nhiều quan điểm khác nhau, song dù xem xét ở góc độ nào thì bản chất của nó vẫn không thay đổi. Theo “Kinh tế hộ nông dân” xuất bản năm 2000 của tiến sĩ Đỗ Văn Viện và thạc sĩ Đặng Văn Tiến thì: “kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ.
Được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển” [11]. Kinh tế hộ và kinh tế gia đình là hai phạm trù nhưng có quan hệ với nhau. Nếu như kinh tế gia đình được đặt trong mối quan hệ với kinh tế tập thể thì kinh tế hộ được coi là các hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị kinh tế độc lập. Nếu gia đình được xem trong mối quan hệ xã hội thì hộ được xem là những đơn vị kinh tế trong nền kinh tế.
Tuy nhiên trên thực tế ở nông thôn nước ta hộ đều tồn tại phổ biến dưới dạng hộ gia đình. Tức là hộ vừa có chung cơ sở huyết thống vừa có chung cơ sở kinh tế. Vì vậy trong quá trình nghiên cứu đôi khi tôi đồng nhất giữa kinh tế gia đình và kinh tế hộ. * Đặc trưng: Kinh tế hộ nông dân mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế hộ nông dân và kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển.
Các thành viên trong hộ được gắn bó chặt chẽ với nhau bởi quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân. Hơn nữa sống trong điều kiện tình làng nghĩa xóm chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. 6 - Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau dựa trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản, quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chi tiêu. Đó chính là những lợi ích về kinh tế cho nên trong gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau.
- Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân công lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là người trực tiếp lao động. Do đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi, hợp lý vì mọi người hiểu nhau về năng lực và trình độ. Hơn nữa vì mục đích của mỗi thành viên trong nông hộ cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình giàu có, động lực đó cũng thúc đẩy mọi người làm hết mình và có tính tự giác cao, điều mà không có hình thức kinh doanh nào có được. - Về tài sản và tư liệu sản xuất: Các thành viên trong hộ đều bình đẳng, sử dụng chung mọi tài sản phục vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi người đều hiểu rõ tính chất giá trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng và bảo quản cao nhất.
Bởi vì chúng cũng là những yếu tố kinh tế của gia đình [12]. Phân loại nông hộ * Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có: - Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường: Loại nông hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình họ. Để có đủ sản phẩm lao động trong nông hộ phải làm cật lực và đó cũng được coi là một lợi ích, để có thể tự cấp, tự túc, sự hoạt động của hộ phụ thuộc vào: + Khả năng mở rộng diện tích đất đai. + Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập.
+ Có thị trường vật tư để họ mua nhằm lấy lãi. + Có thị trường sản phẩm để học trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. - Hộ nông dân bắt đầu có phản ứng với thị trường: Loại hộ này còn gọi là “nửa tự cấp”, nó không giống như loại doanh nghiệp khác là phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường, vì các yếu tố tự cấp còn lại nhiều và vẫn quyết định cách thức sản xuất của hộ. Ở đây hộ có phản ứng với giá cả, với thị trường nhưng ở mức độ thấp.
- Hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Loại nông hộ này mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với các thị trường vốn, ruộng đất, lao động,… 7 * Theo tính chất của ngành sản xuất - Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp. - Nông hộ kiêm: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp. - Nông hộ chuyên: Là hộ chuyên làm các ngành nghề như: cơ khí, mộc, nề, rèn sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp. - Nông hộ buôn bán: Họ có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ hoặc ở nơi đông dân cư.
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép. Vì vậy xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hoá. Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay làm lao động phi nông nghiệp tăng lên. * Căn cứ vào thu nhập của nông hộ bao gồm: - Hộ giàu - Hộ khá - Hộ trung bình - Hộ nghèo - Hộ đói Sự phân biệt này thường dựa vào quy định chung hoặc quy định của từng địa phương.
* Căn cứ vào tính chất ổn định của tình trạng ăn, ở và canh tác: - Hộ du canh, du cư - Hộ định canh, du cư - Hộ định cư, du canh - Hộ định canh, định cư Sự phân loại này còn tồn tại nhiều ở các huyện vùng cao phía Bắc, Tây Nguyên… 1. Tại sao phải nghiên cứu kinh tế nông hộ Sở dĩ phải nghiên cứu kinh tế nông hộ vì những lý do sau: - Nông hộ chính là thực thể kinh tế văn hoá xã hội chủ yếu ở nông thôn. - Kinh tế nông hộ không thể tách rời nền kinh tế quốc dân, nó chính là bộ phận quan trọng hợp thành của kinh tế quốc dân. 8 - Khoa học kinh tế nông hộ là nền tảng cho việc xem xét, phân tích, đánh giá và xây dựng chiến lược phát triển nông thôn.
Vì sao kinh tế nông hộ tồn tại Kinh tế nông hộ tồn tại bởi những nguyên nhân sau: - Nông dân tự duy trì được tái sản xuất giản đơn do họ có tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai và lao động. Nhờ đó họ có thể chủ động tiến hành tổ chức sản xuất. - Trong quá trình tồn tại và phát triển, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất trong sản xuất của các nông hộ. - Quá trình tập trung hoá ruộng đất vào một số người bị hạn chế vì đất đai bị chia nhỏ do quá trình tách hộ và sự thừa kế.