CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Kỹ thuật vỗ béo Nuôi vỗ béo bò là nuôi dưỡng đặc biệt với mức ăn dồi dào, khẩu phần có giá trị hoàn thiện nhằm mục đích thu được ở con vật một lượng thịt tối đa với chất lượng thoả đáng. Có rất nhiều phương pháp vỗ béo khác nhau và phương pháp quản lý bò vỗ béo cũng khác nhau tuỳ theo phương pháp vỗ béo.
Phương pháp quản lý thường không cố định vì nó phải thay đổi tuỳ theo các yếu tố như đặc điểm của giống bò, điều kiện nuôi dưỡng và tiêu chuẩn thịt bò mà thị trường yêu cầu. Thời gian vỗ béo tuỳ thuộc vào tuổi, độ béo của bò trước khi vỗ béo và yêu cầu của thị trường về khối lượng bò, chất lượng thịt,… Thông thường thời gian vỗ béo là 60-90 ngày. Các phương pháp vỗ béo Căn cứ vào đối tượng đưa vào vỗ béo có thể chia ra các kiểu vỗ béo sau: a. Vỗ béo bò lấy thịt trắng Đây là kiểu vỗ béo bò sữa trước 3-4 tháng tuổi.
Thông thường chỉ dùng bò đực, đặc biệt là bò đực hướng sữa. Nuôi bò chủ yếu bằng sữa mẹ, yêu cầu tăng khối lượng khoảng 1 kg/con/ngày trong thời gian này có thể cho bò ăn thêm cỏ khô, thức ăn tinh và củ quả. Hiện nay ở nước ta “bò thui” rất được ưa chuộng, nhưng bò thường được giết thịt sớm mà không qua vỗ béo nên không khai thác được hết tiềm năng cho thịt của bò. Hơn nữa, trong chăn nuôi bò hiện nay bò đực thường được các hộ gia đình nuôi tuyển chọn để làm giống nên việc vỗ béo bò đực trong giai đoạn bú sữa còn rất hạn chế.
Để đáp ứng nhu cầu và giá trị thịt bò thì đây là một hướng phát triển quan trọng trong chăn nuôi bò lai hướng thịt. Vỗ béo bò sớm sau cai sữa Bò được đưa vào vỗ béo ngay sau khi cai sữa hay sau một thời gian huấn luyện 30-45 ngày. Hình thức này phù hợp cho những trang trại nuôi vỗ béo thương phẩm. Bò thuộc giống bò thịt có tầm vóc lớn (bò lai) thích hợp với kiểu vỗ béo này.
Vỗ béo bò non Đối với vỗ béo phổ biển nhất hiện nay ở nước ta là bò tơ (cả đực và cái) ở độ tuổi từ 12-18 tháng tuổi. Thức ăn tinh trong khẩu phần không dưới 30% giá trị năng lượng và có thể tăng lên ở giai đoạn cuối của kỳ vỗ béo. Trước khi đưa vào vỗ béo đàn bò đã trải qua một thời kỳ nuôi sinh trưởng khi đạt được thể vóc và khối lượng nhất định bò sẽ được chuyển vào thời gian vỗ béo. Vỗ béo bò trưởng thành Bò sinh sản và các loại bò khác trước khi đào thải được qua một giai đoạn vỗ béo để tận thu lấy thịt.
Đặc biệt trong chăn nuôi bò thịt việc sinh sản thường được điều khiển theo mùa vụ. Sau một vụ phối giống những bò cái không có khả năng sinh sản sẽ được loại thải để vỗ béo khai thác thịt. Thời gian vỗ béo thông thường là 2-3 tháng phụ thuộc vào độ béo ban đầu và nguồn thức ăn. Không nên kéo dài thời gian vỗ béo quá 3 tháng vì lúc này bò sẽ có tăng khối lượng thấp, hiệu quả chuyển hoá thức ăn thấp và do đó mà hiệu quả kinh tế sẽ bị hạn chế.
Quản lý bò vỗ béo a. Quản lý bò mới đưa vào vỗ béo Bò trước lúc giết thịt thường được chuyển (mua về) để vỗ béo ở một nơi tập trung. Bò mới đưa vào vỗ béo cần khoảng 2 tuần để thích nghi với môi trường mới. Có thể áp dụng các biện pháp sau đây để ổn định bò mới đưa về vỗ béo: 6 - Nhốt tách riêng những bò mới đưa về vỗ béo nhằm không cho chúng ở cạnh những con cũ đã thích ứng rồi để tránh lây nhiễm bệnh.
Khi vỗ béo trong chuồng, đàn bò vỗ béo thường được chia nhóm gồm có cùng giới tính, cùng tuổi và tương đương về khối lượng trong cùng một ô chuồng. - Bò mới phải được nghỉ ngơi ở những khu vực khô ráo, sạch sẽ và không được nhốt quá chật chội. - Trong thời gian này cần đánh dấu, thiến (nếu chưa thiến), kiểm tra sức khoẻ bò, tẩy giun sán, phun thuốc trừ ve và tiêm phòng cho bò. - Cung cấp đầy đủ nước uống là rất quan trọng vì bò có xu hướng bị mất nước sau thời gian vận chuyển dài.
- Bò mới mua về nên chăn thả từ từ để bò có thể thích nghi với môi trường mới. Trong điều kiện nuôi nhốt thì thành phần thức ăn cho chúng nên thay đổi từ từ cho đến khi ăn khẩu phần vỗ béo. Khối lượng thức ăn tăng lên từ từ khi thể trạng và hình dáng của bò cho thấy bò không còn sụt cân nữa. - Bò mới mua về hoặc trước khi đưa vào vỗ béo thì cần được tẩy giun sán như: sán lá gan, sán sơ mít, sán dây… b.
Quản lý bò trong thời gian vỗ béo - Xác định khối lượng bò và lượng thức ăn thu nhận: Khối lượng của từng con bò phải được xác định tại thời điểm bắt đầu vỗ béo và ghi chép lại hàng tháng cho đến khi xuất chuồng. Nếu thấy bò hơi giảm khối lượng hay tăng khối lượng kém so với tháng trước thì phải kiểm tra xem bò có bệnh gì không, hoặc các điều kiện về môi trường khác. Lượng thức ăn thu nhận cho cả đàn bò cũng cần được ghi chép. Khối lượng thức ăn tinh và thức ăn thô cần được định lượng khi cho ăn và ghi chép lại.
- Quản lý sức khoẻ hàng ngày: Hàng ngày phải quan sát đàn bò vỗ béo nhằm bảo vệ và can thiệp đối với những con có biểu hiện không bình thường càng sớm càng tốt. Một số điểm then chốt trong việc quan sát là lượng thức ăn 7 ăn vào, hô hấp, dáng đi, vùng bụng, tình trạng phân và nước tiểu. Máng nước phải thường xuyên sạch và dọn dẹp chuồng trại hàng ngày. - Quản lý hoạt động sinh dục của bò: Nếu đàn bò vỗ béo là bò đực non thì hiện tượng chúng nhảy nhau thường khá phổ biến và gây thiệt hại đáng kể về mặt kinh tế.
Tổn thất gây ra chủ yếu là do gây chấn thương và stress cho cả con nhảy và con bị nhảy. Thiến bò sẽ giảm được hiện tượng này nhưng không loại trừ được hoàn toàn. Do đó, cần sớm phát hiện và tách riêng những con đó ra. Nếu đàn bò vỗ béo là bò cái thì bình thường chúng có biểu hiện động dục đều đặn theo chu kỳ tính.
Điều này gây ra nhiều phiền phức cho quản lý và có lẽ đây là nguyên nhân quan trọng lạm giảm tăng khối lượng so với bò đực. Bò cái tơ thường động dục trong khoảng 20 giờ và trong thời gian đó nó có thể bị con khác nhảy lên trên nhiều lần. Hơn nữa, trong thời gian này bò ăn kém. Gần đây người ta sử dụng một số loại thuốc ức chế động dục cho bò cái nuôi vỗ béo.
Tóm tắt quá trình nuôi bò vỗ béo như sau: Chọn Tẩy Làm Nuôi Đánh (1) (2) quen với (3) (4) bò giun vỗ béo giá TĂ vỗ sán béo Hình 1.1: Sơ đồ qui trình vỗ béo bò 1. Một số nét sơ lược về cây ngô Ngô còn gọi là bắp, tên khoa học là Zea mays L. Trong tiếng Anh “maize” xuất phát từ tiếng Tây Ban Nha (maíz) là thuật ngữ trong tiếng Taino để chỉ loài cây này, là từ thông dụng Vương quốc Anh để chỉ cây ngô. Tại Hoa Kỳ, Canada và Australia, thuật ngữ hay được sử dụng là corn, là từ trước đây dùng để gọi cho một loại cây lương thực, hiện nay thuật ngữ 8 này dùng để chỉ cây ngô, là dạng rút gọn của "Indian corn" là “cây lương thực của người Anh điêng”.
Thời gian sinh trưởng của cây ngô dài, ngắn khác nhau phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh. Trung bình thời gian sinh trưởng từ khi gieo đến khi chín từ 90 đến 160 ngày, Sự phát triển của cây ngô chia ra làm 2 giai đoạn: - Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng: Từ khi gieo đến khi xuất hiện nhị cái - Giai đoạn sinh trưởng sinh thực: Bắt đầu với việc thụ tinh của hoa cái cho đến khi hạt chín hoàn toàn. Có nhiều ý kiến khác nhau về thời gian sinh trưởng phát triể của cây ngô, song có thể chia ra các thời kỳ sau: Thời kỳ nảy mầm, thời kỳ 3 - 6 lá, thời kỳ 8 - 10 lá, thời kỳ xoáy nõn, thời kỳ nở hoa và thời kỳ chín. Thân cây ngô sau thu hoạch có giá trị dinh dưỡng cao nhất trong tất cả các loại phụ phế phẩm từ ngũ cốc, và vì thế nó có tiềm năng lớn trong việc cải thiện dinh dưỡng cho gia súc.
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cải và ctv (1999) thì thân cây ngô sau thu hoạch có 25-26% chất khô; 32% xơ thô; 68,7% NDF; Tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ: 53,3% và năng lượng trao đổi cho trâu bò: 7,46 MJ/kg chất khô. Cản trở lớn nhất đối với việc sử dụng thân cây ngô sau thu hoạch là khô, cứng vì vậy cần thiết bị cán dập, chặt ngắn, phơi khô trước khi cho ăn hoặc phơi khô dùng dần (Trích Vũ Chí Cương, 2007) [3]. Đặc điểm về tiêu hoá ở gia súc nhai lại Trong chăn nuôi gia súc nhai lại, sự lên men thức ăn ở dạ cỏ nhờ vào hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ. Quá trình lên men thức ăn và sản phẩm cuối cùng từ quá trình nên men là những yếu tố quan trọng trong việc cải thiện dinh dưỡng cho bò.
Sự cân bằng các sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men trong dạ cỏ phù hợp với sinh lý gia súc sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn trong khẩu phần cũng như năng suất của vật nuôi. 9 Hệ vi sinh vật dạ cỏ đóng một vai trò quan trọng cho quá trình nên men thức ăn trong dạ cỏ. Do đó những hiểu biết về hệ vi sinh vật dạ cỏ giúp chúng ta phương pháp điều chỉnh khẩu phần ăn để sao cho sản phẩm cuối cùng của quá trình nên men trong dạ cỏ đáp ứng được nhu cầu của gia súc. Hệ vi sinh vật dạ cỏ Hệ vi sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần ăn.
Tính từ năm 1941 những công trình nghiên cứu đầu tiên về sinh vật dạ cỏ đến nay đã có tới hơn 200 loài vi sinh vật dạ cỏ được mô tả và ít nhất có 20 loài protozoa đã được xác định. Vi sinh vật dạ cỏ bao gồm: Vi khuẩn, nấm, protozoa, mycoplasma, các loại vi rút và thể thực khuẩn.