Đặt vấn đề Ngày nay, việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc là một xu thế được rất nhiều người tiêu dùng và các nhà khoa học quan tâm. Người ta muốn hướng tới những sản phẩm tự nhiên có giá trị cao, có lợi cho sức khỏe, đưa con người gần gũi với thiên nhiên. Những thành công trong nghiên cứu khoa học ở lĩnh vực y dược đã khám phá ra những tác dụng kì diệu của nhiều loại cỏ cây – dược liệu trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người. Đây chính là lý do để thuốc từ dược liệu đang ngày càng được coi trọng và sử dụng nhiều.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng, cùng với đó là một nguồn dược liệu từ thiên nhiên rất phong phú, trong đó có các dược liệu: Cúc hoa, hoài sơn và địa liền. Cả ba dược liệu này đều là những dược liệu đang có nhu cầu lớn, phục vụ nội tiêu và xuất khẩu, cần được nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sơ chế và bảo quản. Một vấn đề nữa cần quan tâm đó là tình trạng dược liệu giả, trộn hóa chất độc hại, chiết xuất mất hoạt chất. xảy ra tràn lan, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và sức khỏe người bệnh.
Công bố của Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương về chất lượng thuốc đông y trong các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước tại hội thảo cho thấy tính mạng của người bệnh đang bị xem thường. Theo đó, qua kiểm nghiệm gần 400 mẫu dược liệu thì có tới 60% chưa đạt chất lượng. Trong đó, 20% bị trộn rác, cát, xi măng, lẫn tạp chất, giả mạo, thậm chí tẩm ướp cả hóa chất độc hại. 2 Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu một quy trình sơ chế và xử lý dược liệu một cách bài bản và khoa học, nhằm đảm bảo chất lượng và giá trị thương phẩm của dược liệu, tăng khả năng cạnh tranh của dược liệu trong nước là việc rất cần thiết.
Được sự đồng ý của Phòng nghiên cứu công nghệ và thiết bị bảo quản nông sản - Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch với sự hướng dẫn của TS. Phạm Minh Nguyệt, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu công nghệ sơ chế và bảo quản dược liệu địa liền”.Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu được quy trình công nghệ sơ chế và bảo quản phù hợp với dược liệu địa liền, giữ được chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản 1. Yêu cầu - Xác định được công nghệ sơ chế và xử lý nguyên liệu tiền sấy cho dược liệu địa liền - Xác định được công nghệ sấy phù hợp với đặc tính của dược liệu địa liền - Xác định được phương pháp quản sản phẩm dược liệu địa liền 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian bảo quản dược liệu địa liền qua các phương pháp sơ chế, sấy và bảo quản.
Từ đó rút ra kinh nghiệm để tiếp tục cho các nghiên cứu sau này - Hiểu biết sâu hơn về quá trình bảo quản dược liệu địa liền,nắm bắt tốt hơn quy sơ chế tiền sấy và sấy 1. Ý nghĩa thực tiễn -Sau khi đã xây dựng thành công quy trình công nghệ sơ chế và bảo quản dược liệu địa liền. Quy trình sẽ được áp dụng rộng rãi tại các địa phương, doanh nghiệp sơ chế và sản xuất dược liệu địa liền. Từ đó nâng cao chất lượng cho dược liệu địa liền, tạo nguồn nguyên liệu lâu dài cho ngành y và 1 số ngành liên quan.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan chung về tình hình tiêu thụ dược liệu tại việt nam 2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ dược liệu Việt Nam là khu vực có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp để trồng và phát triển các loại cây dược liệu, theo Đỗ Tất Lợi cho thấy tính đa dạng của dược liệu có nguồn gốc từ các loại cây cỏ, rau, hoa, củ, quả (thảo dược) và được phân bố trồng ở khắp mọi miền từ miền núi, trung du đến đồng bằng. Theo báo cáo của Viện Dược liệu (2007): nhu cầu sử dụng dược liệu tại Việt Nam cần 59.548 tấn/năm, trong đó: Phục vụ cho công nghiệp Dược: 20.986 tấn (chiếm 35%); Y học cổ truyền: 18.452 tấn (chiếm 31%); Xuất khẩu kể cả chiết xuất tinh dầu 20. Số liệu này chưa đề cập đến nhu cầu cho sản xuất thực phẩm chức năng hiện khai thác trong tự nhiên khoảng 12.100 tấn; Từ nguồn dược liệu trồng với 136 loài khoảng 15.
Nguồn dược liệu nhập khẩu hàng năm khoảng 31. Điều này cho thấy việc khai thác và trồng dược liệu ở nước ta chưa được quan tâm đầu tư tương xứng với tiềm năng của nó. Mặt khác, sản xuất còn tự phát, thiếu công nghệ sơ chế và bảo quản dược liệu là nguyên nhân dẫn đến tổn thất sau thu hoạch về cả lượng và chất. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi chất lượng dược liệu trong quá trình sơ chế và bảo quản 2.
Biến đổi sinh lý: nguyên liệu dược liệu sau thu hoạch vẫn diễn ra quá trình sinh lý với sự hô hấp bằng hấp thụ khí O2, thải ra khí CO2 và nước, đồng thời là quá trình thải nhiệt. Qúa trình diễn biến sinh lý này luôn đi đôi với quá trình biến đổi về sinh hoá trong nguyên liệu tươi với xu hướng làm tăng tốc độ già hoá, tăng độ chín và dẫn đến sự biến đổi về nội chất và cơ tính như khô héo, mềm nhũn, nhăn nheo. Mặt khác vi sinh vật và nấm mốc cũng là tác 4 nhân gây nên hư hỏng và chóng bị phân huỷ dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc và mùi vị của sản phẩm 2. Biến đổi về sinh hoá: thường xảy ra ở giai đoạn đầu của quá trình sấy với sự hoạt động mạnh mẽ của các hệ enzym nhất là các enzym oxy hoá khử gây biến đổi xấu đến chất lượng của vật liệu sấy.
Trong giai đoạn sấy chính sự hoạt động của enzym giảm theo xu hướng độ ẩm vật liệu giảm. Giai đoạn sau sấy một số enzym nhất là enzym oxy hoá khử không bị hoàn toàn đình chỉ mà còn tiếp tục hoạt động yếu trong thời gian bảo quản và tới một giai đoạn có thể phục hồi khả năng hoạt động. Trong thực tế cho thấy nếu các enzym không mất hoạt tính do xử lý sơ bộ hoặc do tác dụng của nhiệt độ trong quá trình sấy và bảo quản có thể dẫn đến sự tạo màu do hoạt động của enzym polyphenoloxidaza gây ra sự sẫm màu hoặc thuỷ phân lipid làm giảm chất lượng của sản phẩm. Biến đổi về hoạt độ nước và sự phát triển của vi sinh vật: bào tử vi sinh vật hầu như không bị tiêu diệt trong quá trình sấy.
Hoạt độ nước (aw) có tác động trực tiếp đến sư hoạt động của các hệ vi sinh vật, trong đó mỗi loại vi sinh vật có một giá trị aw thấp nhất mà nếu dưới đó thì chúng không phát triển lâu dài được. Chỉ số họat độ nước có thể dự đoán được các loại vi sinh vật có khả năng phát triển hoặc không phát triển ở giá trị aw nhất định 2. Biến đổi về vật lý: Tạo cho sản phẩm bị cong vênh, nứt nẻ, biến cứng bề mặt khi tốc độ sấy cao, sự đông tụ protein ở nhiệt độ sấy > 600C, sự biến tính của tinh bột khi nhiệt độ > 800C, những biến đổi này dẫn đến sự thay đổi cấu trúc của sản phẩm, giảm khả năng hoàn nguyên khi ngấm nước. Biến đổi về hoá học: Phản ứng tạo màu không do enzym như phản ứng caramen hoá và phản ứng melanoid.
Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng tạo màu không do enzym như độ ẩm, nhiệt độ, độ pH, xảy ra ở nhiệt độ 80 - 90°C. Phản ứng oxy hóa lipit với loại giàu chất béo trong và sau quá trình sấy dễ bị ôi khét, tạo nên vị lạ. Tổng quan tình hình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sấy và bảo quản dược liệu trong nước và trên thế giới 2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sấy và bảo quản dược liệu thế giới 2.
Một số kết quả nghiên cứu về công nghệ sấy dược liệu Theo nghiên cứu của M. Fatouh và các công sự [27] sử dụng Sấy bơm nhiệt (HPD) có kết hợp hồng ngoại bức xạ (FIR) để sấy cho một số dược liệu là đu đủ thái lát, galingale và củ sả, kết quả thực nghiệm cho thấy: ở chế độ sấy 550C phương pháp sấy kết hợp HPD - FIR cho chất lượng sản phẩm có chất lượng cảm quan tốt, độ ẩm sản phẩm đồng đều, thời gian sấy giảm. Cụ thể với đu đủ thái lát đã giảm thời gian sấy so với sấy bơm nhiệt không kết hợp với hồng ngoại tối đa 4 giờ, năng lượng tiêu thụ SEC = 4,91 MJ/kg H2O, hệ số bơm nhiệt là 3,56. Nghiên cứu của Kirsti Pääkkönen được thực hiện bằng sấy bơm nhiêt kết hợp hồng ngoại trên máy sấy quay được tiến hành với các dược liệu là lá bạch dương (Betula spp.
Trong thực nghiệm này nhiệt độ và độ ẩm của không khí sấy và chi phí năng lượng tiêu thụ được ghi nhận. Các thông số chất lượng sản phẩm là hàm lượng nước, màu sắc và khả năng bù nước. Kết quả đánh giá chung đều cho thấy chi phí năng lượng giảm so với sấy cùng phương pháp ở chế độ buồng sấy tĩnh. Các chỉ tiêu chất luợng chỉ so với sấy tĩnh chỉ phụ thuộc vào tốc độ thùng quay do khả năng bị vụn nát và khả năng hấp thụ hồng ngoại bức xạ.
and Perera [16] đã tổng hợp từ trên 100 công trình nghiên cứu về công nghệ HPD trên thế giới. Trong đó, hầu hết các công trình tập trung khai thác nhằm phát triển hai ưu điểm nổi bật của HPD là: Tính cải 6 thiện chất lượng sản phẩm nhờ cơ chế sấy nhiệt độ thấp (với giải nhiệt độ từ 10 -600C); Tính hiệu quả về chi phí năng lượng nhờ tận dụng triệt để nguồn nhiệt từ quá trình ngưng tụ và bay hơi của hệ thống máy lạnh hai chiều. Kết quả tổng hợp đánh giá so sánh phương pháp HPD với hai phương pháp sấy khác (sấy khí nóng và sấy chân không) về hiệu quả năng lưọng cho thấy HPD có hệ số SMER (kg H2O/kWh) cao từ 1- 4 kgH2O/kWh, trong khi sấy nhiệt đối lưu là 0,12 - 1,28 kgH2O/kWh và sấy chân không là 0,72 - 1,2 kgH2O/kWh. Về tính cải thiện chất lượng sản phẩm đã được M.