Chương 1 Chương này tác giả đã giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và bối cảnh thực tiễn để thực hiện nghiên cứu. Những nội dung này sẽ giúp chúng ta có một góc nhìn tổng quát hơn về đề tài nghiên cứu, từ đó dễ dàng tìm hiểu sâu hơn nội dung ở những chương tiếp theo. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm hiệu quả làm việc Hiệu quả làm việc của nhân viên là một khái niệm trừu tượng và chưa phổ biến cho đến hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh, đa phần thì mọi người tự hiểu theo cách của riêng mình.
Mặc dù thuật ngữ hiệu quả làm việc được nhắc đến rất nhiều ở các cơ quan, tổ chức,… Vì vậy rất khó để đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công việc của người lao động. Hiệu quả làm việc thể hiện ở việc hoàn thành khối lượng công việc được giao và kết quả của công việc hướng đến lợi ích của cá nhân và tổ chức (Murphy, 1989). Hiệu quả làm việc biểu hiện dưới hai hành vi quan trọng là hành vi công việc và hành vi ngữ cảnh. Hành vi công việc được biểu hiện trực tiếp qua việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao và hành vi ngữ cảnh được biểu hiện gián tiếp đến công việc thông qua các nhân tố về khả năng và ý thức cá nhân trong công việc (Borman and Motowidlo, 1993).
Hiệu quả làm việc được xem xét thông qua mức độ hoàn thành công việc được giao theo các yêu cầu về số lượng, chất lượng, thời gian (Thomas E. Kết quả công việc bao gồm cả số lượng, chất lượng và mức độ hoàn thành các chỉ tiêu công việc được giao là những tiêu chí rất quan trọng. Ngoài ra, kinh nghiệm chuyên môn, thái độ làm việc và phẩm chất cá nhân là những yếu tố giúp lãnh đạo có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả làm việc của một nhân viên. Như vậy, hiệu quả làm việc của nhân viên được biểu hiện thông qua kết quả của việc hoàn thành khối lượng và chất lượng công việc được giao.
Hiệu quả làm việc của 9 người lao động là tiêu chí, cơ sở để đánh giá, phân loại và khen thưởng, thông qua đánh giá bởi ý thức, khả năng và mức độ hoàn thành trong công việc của mỗi người theo yêu cầu của cơ quan cấp trên đề ra. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả làm việc Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Học thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow cho rằng loài người mong muốn được thỏa mãn một số nhu cầu nhất định và đã nhìn nhận nhu cầu đó theo hình thái phân cấp, sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Maslow phân cấp nhu cầu ra thành 5 thứ bậc: nhu cầu về sinh lý, nhu cầu về an toàn hay an ninh, nhu cầu về liên kết hoặc chấp nhận (xã hội), tôn trọng và cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định mình. - Nhu cầu sinh học: Đây là nhu cầu cơ bản của con người để duy trì cuộc sống như là thức ăn, nước uống, quần áo mặc, chỗ ở… - Nhu cầu an toàn: Bao gồm nhu cầu về an ninh và sự bảo vệ tránh sự nguy hại về thân thể và sự đe dọa mất việc, mất tài sản… - Nhu cầu xã hội: Bao gồm tình thương, cảm giác trực thuộc, được chấp nhận và tình bạn.
- Nhu cầu được tôn trọng: nhấn mạnh tới sự thỏa mãn như quyền lực, uy tín, đơn vị. - Nhu cầu tự hoàn thiện: đây là nhu cầu cao nhất trong phân cấp. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người cần đạt tới tức là làm cho tiềm năng của con người đạt đến mức tối đa và hoàn thành một mục tiêu nào đó. Học thuyết ERG (Existance, Relatedness, Growth) Học thuyết ERG cũng nghiên cứu khai thác và phân loại nhu cầu của người lao động để từ đó người quản lý nắm được các nhu cầu và cấp độ từ đó có hướng phục vụ nhằm tạo cho công tác quản lý đạt hiệu quả.
Học thuyết này chia nhu cầu làm 3 loại do Alderfer sáng lập ra: 10 - Nhu cầu tồn tại (E): Nhu cầu này cũng giống như nhu cầu sinh lý trong học thuyết thứ bậc nhu cầu của Maslow. Đó là các đòi hỏi về vật chất và các nhu cầu cơ bản như: thức ăn, quần áo, chỗ ở. - Nhu cầu quan hệ (R): Đây là nhu cầu mong muốn có được mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong hành động. Trong quá trình làm việc nó được biểu hiện thông qua quan hệ giữa những người đồng nghiệp, giữa cấp trên và cấp dưới.
Trong gia đình đó là mối quan hệ giữa bố mẹ với các con, giữa anh em họ hàng. Trong xã hội thì được biểu hiện dưới quan hệ giữa bạn bè và người xung quanh. - Nhu cầu phát triển (G): Đây là nhu cầu về mong muốn được sáng tạo hoạt động có hiệu quả và làm được tất cả những gì mà con người có thể thực hiện được. Theo ông thì con người cùng một lúc có thể đồng thời có hai hoặc nhiều nhu cầu cùng hoạt động, sức mạnh thúc đẩy của nhu cầu giao tiếp không đòi hỏi thỏa mãn các nhu cầu trước đó.
Khi không có khả năng đáp ứng được nhu cầu giao tiếp và ứng xử thì có thể tạo động lực thông quan nhu cầu tồn tại. Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu giao tiếp ngày càng được mở rộng, bởi lúc này con người muốn hòa mình vào tập thể, vào xã hội, do vậy nhu cầu này càng trở nên quan trọng và thiết yếu. Cách thức đo lƣờng hiệu quả làm việc Nghiên cứu của Rasker và cộng sự (2001) cho rằng, hiệu quả làm việc nhóm được đo lường dựa trên độ chính xác, kịp thời và mức độ thỏa mãn của các thành viên. Klimoski và Jones (1995) xác định các biến đầu ra để đo lường hiệu quả làm việc nhóm như: hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng của kết quả, sự hài lòng, thái độ và thành quả.
Ngoài ra, Klimoski và Jones (1995) cho rằng thái độ của các thành viên trong tổ chức có ảnh hưởng đến chất lượng kết quả của tập thể. Có nhiều cách để đo lường hiệu quả làm việc, trong các nghiên cứu trước đây hiệu quả làm việc được đo lường bởi các yếu tố đầu ra của quá trình làm việc như: hoàn thành mục tiêu, chất lượng kết quả, thời hạn, tỷ lệ lỗi, sự hài lòng, thái độ,… 11 Các đơn vị, tổ chức đề ra tiêu chí cụ thể về hiệu quả làm việc của viên chức. Tùy thuộc vào từng đặc điểm ngành, đặc điểm công việc; đặc điểm của tổ chức mà mỗi tổ chức có những cách thức và tiêu chí đánh giá hiệu quả làm việc của viên chức khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản sẽ đảm bảo một phần hoặc tất cả các yêu cầu như sau: - Thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn: hoàn thành công việc đầy đủ, chất lượng theo thời gian (tiến độ) được giao.
- Thích nghi và định hướng cao trong công việc: thích nghi với công việc trong mọi hoàn cảnh và có định hướng cao trong công việc về sự nỗ lực cố gắng và cầu tiến. - Nghiên cứu, sáng kiến, tham mưu trong công việc: có sáng kiến, cải tiến trong công việc, thường xuyên đề xuất tham mưu cho lãnh đạo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chung. - Tinh thần ý thức trách nhiệm: luôn chấp hành sự phân công của các cấp lãnh đạo, sẵn sàng thử thách ở những vị trí khó khăn; nhiệt tình, chủ động, có thái độ nghiêm túc và tích cực trong việc thực hiện công việc; phối hợp và quan hệ tốt với đồng nghiệp, khách hàng. - Tuân thủ quy định nghiệp vụ, nội quy lao động: tuân thủ, chấp hành các quy trình/quy định/hướng dẫn nghiệp vụ; không vi phạm các quy định về thời gian làm việc, trang phục, sử dụng tài sản…và các quy định khác về kỷ luật lao động tại đơn vị.
- Quản trị điều hành (đối với cấp quản lý): phân công công việc hợp lý cho nhân viên phụ trách, phát huy khai thác tốt năng lực của nhân viên; chủ động đào tạo, hỗ trợ và khuyến khích nhân viên làm việc; tạo dựng được môi trường làm việc năng động, đoàn kết, cởi mở, phát huy hiệu quả cao; có mức độ tín nhiệm của nhân viên cao. Mô hình nghiên cứu 2. Các nghiên cứu trước đây 12 Các nghiên cứu trên thế giới có đề cập đến việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên bằng phương pháp định lượng. Tuy nhiên, các cơ sở lý thuyết cũng như mô hình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này chưa được đề cập rõ ràng và cụ thể.
Các tác giả ngoài dựa vào các nghiên cứu khác có liên quan thì đồng thời đề cập đến việc chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu khám phá định tính nhằm tìm ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên và sau đó dùng phương pháp định lượng để kiểm định lại mô hình nghiên cứu. Các nghiên cứu trên thế giới Trong nghiên cứu của Boon và cộng sự (2012), các tác giả đã khảo sát 170 nhân viên làm việc trong các lĩnh vực khác nhau ở Melaka và Kuala Lumpur. Thông qua các bài nghiên cứu có liên quan, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 5 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên bao gồm: thu nhập; khen thưởng và động viên; môi trường làm việc; làm việc nhóm; đặc tính cá nhân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đặc tính cá nhân và làm việc nhóm là 2 trong số 5 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên; các yếu tố còn lại có ảnh hưởng nhưng không đáng kể.
Trong nghiên cứu của Walled Ahmed Abdel-Raze (2011), tác giả đã khảo sát 100 chuyên gia làm việc trong lĩnh vực chăm sóc trẻ. Bài nghiên cứu tập trung vào các yếu tố thuộc về môi trường làm việc của tổ chức để xem xét mối quan hệ và mức ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên. Môi trường làm việc của tổ chức được đo lường bởi: cơ cấu tổ chức, định mức công việc được giao, khả năng giám sát của cấp trên, mối quan hệ và giao tiếp đồng nghiệp, chính sách nhân sự, thủ tục/quy định của tổ chức.