Chương 1 : Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh. Chương 2 : Thực trạng về Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam. Chương 3 : Giải pháp nhằm nâng cao Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Khái niệm về Năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm Cho tới thời điểm hiện tại có rất nhiều quan điểm nói về Cạnh tranh, như: Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia): “Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác”. Theo Michael Dunford, Helen Louri and Manfred Rosenstock trong tác phẩm Competition, Competitiveness, and Enterprise Policies: “Những Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là những Doanh nghiệp đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hoá và dịch vụ và/hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận và/hoặc thị phần .” Theo Michael Porter: “Để có thể cạnh tranh thành công, các Doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các Doanh nghiệp ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”. Một số khái niệm khác về cạnh tranh Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian. Nhìn chung, hiện nay tồn tại cùng lúc rất nhiều khái niệm về Cạnh tranh, theo sự quan sát và các lĩnh vực hoạt động khác nhau mà các tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau. Quả thực, để có một khái niệm thống nhất là việc tương đối phức tạp nhưng không nhất thiết. Hơn nữa, cạnh tranh là phạm trù lịch sử, tức là cạnh tranh thay đổi thường xuyên, các yếu tố tác động đến cạnh tranh là biến động không ngừng, trong mỗi tình hình mới, cạnh tranh lại được nhìn nhận với những góc nhìn khác nhau.
Vậy, có thể nhận định Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm nâng cao vị thế của mình so với thời gian trước đó hoặc so với đối thủ cùng ngành hoặc khác ngành bằng cách áp dụng các nhân tố tích cực tác động đến cạnh tranh như nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến phương thức bán hàng, tăng cường hàm lượng khoa học kỹ thuật trong từng sản phẩm dịch vụ.2 Các hình thức cạnh tranh Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được chia ra thành nhiều loại: Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh gồm: Cạnh tranh trong nội bộ ngành, là cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp theo cùng ngành, cung cấp cùng loại sản phẩm dịch vụ, làm cho việc nâng cấp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ gia tăng. Cạnh tranh giữa các ngành, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất qua sự phân bổ vốn đầu tư hợp lý, hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh, cạnh tranh gồm: Cạnh tranh hoàn hảo, là cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không có người nào có đủ ưu thế để chi phối giá cả thị trường. Các sản phẩm bán ra 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đều được người mua đánh giá là tương đối giống nhau về phẩm chất và quy cách.
Doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh để giành lợi thế về phía mình. Cạnh tranh không hoàn hảo, là cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất, mỗi sản phẩm đều mang đặc điểm, tính chất khác nhau nên người bán phải sử dụng các chiêu thức khác ngoài sản phẩm để hỗ trợ cho việc bán sản phẩm như quảng cáo, khuyếch trương, giới thiệu sản phẩm, ưu đãi về giá cả về dịch vụ liên quan. Cạnh tranh độc quyền, xuất hiện khi trên thị trường chỉ có một số hoặc một số ít người bán một sản phẩm dịch vụ nào đó, giá cả, chất lượng của các sản phẩm dịch vụ là do người cung cấp dịch vụ đơn phương ấn định mà không phụ thuộc và các yếu tố khác.3 Các công cụ cạnh tranh Cạnh tranh bằng Chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm luôn là công cụ quan trọng và bền vững trong cạnh tranh. Chất lượng sản phẩm càng cao có thể đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, đi kèm với việc phù hợp tốt hơn với thị hiếu, làm cho sản phẩm dễ dàng lưu thông và được khách hàng lựa chọn.
Xu hướng của thu nhập ngày càng cao, các tiêu chuẩn về sản phẩm tiêu dùng cũng gia tăng không ngừng, sự cạnh tranh về chất lượng dần thay thế và lấn át sự cạnh tranh bằng một số yếu tố thông thường như giá cả và phí. Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong những điều kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật. Là một chỉ tiêu phức hợp thể hiện sự tuân thủ các quy định về kỹ thuật, sự hài hoà về kết cấu. Để tạo ra và duy trì được sự ưu thế trong cạnh tranh, các chủ thể kinh tế cần phải hiểu rõ về vai trò của chất lượng sản phẩm là yếu tố sống còn, yếu tố quyết định quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Nếu kiểu dáng, cách bài trí sản phẩm làm khách hàng có được sự hấp dẫn ban đầu và dẫn đến quyết định quan tâm sử dụng sản phẩm thì chỉ có chất lượng sản phẩm 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tốt, Doanh nghiệp mới có cơ hội duy trì lâu dài mối quan hệ với khách hàng đó, mới có cơ hội cung ứng nhiều thêm nữa các sản phẩm đó và các sản phẩm khác của mình cho cùng khách hàng đó. Vậy, với chất lượng sản phẩm ổn định và ngày càng được nâng cao, số lượng khách hàng và khách hàng tiềm năng biết đến doanh nghiệp, biết đến sản phẩm của doanh nghiệp sẽ gia tăng. Điều này làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng hình ảnh, uy tín, quy mô của doanh nghiệp trên thị trường đồng thời kích thích làm tăng khả năng chi phối thị trường của doanh nghiệp. Nhận thức đúng đắn về chất lượng của sản phẩm, doanh nghiệp sẽ đầu tư vào máy móc thiết bị, ứng dụng các công nghệ kỹ thuật cao, qua đó nâng cao năng lực sản xuất, tạo hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đây là kết quả kỳ vọng của hầu hết các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh lành mạnh, có chiến lược dài hơi cho các bước tiến trong tương lai.
Cạnh tranh bằng Giá bán sản phẩm Giá bán hay giả cả của sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm hay giá trị sản phẩm mà doanh nghiệp dự định bán thông qua việc trao đổi hàng hoá đó trên thị trường. Giá cả sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố kiểm soát được và các yếu tố không kiểm soát được. Các yếu tố kiểm soát được là các yếu tố bên trong doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể chủ động để điều chỉnh được, gồm chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí lưu động và chi phí xúc tiến bán hàng. Các yếu tố không kiểm soát được là các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như các chính sách kinh tế vĩ mô, quan hệ cung cầu, số lượng các đối thủ cạnh tranh và mức độ cạnh tranh trên thị trường.
Giá cả sản phẩm được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. Các chính sách định giá gồm: Chính sách định giá thấp, Chính sách định giá cao, Chính sách ổn định giá bán, Chính sách định giá theo giá cả thị trường, Chính sách giá phân biệt (chính sách phân biệt giá theo lượng mua, chính sách phân biệt giá theo chất lượng, chính 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sách phân biệt giá theo phương thức thanh toán, chính sách phân biệt giá theo thời gian), chính sách bán phá giá. Cạnh tranh bằng các công cụ khác Công cụ Dịch vụ sau bán hàng Đa số khách hàng và người bán hàng ở thời gian trước vẫn cho rằng bán được hàng là xong trách nhiệm của người bán. Nếu trong quá trình tiêu dùng có vấn đề gì liên quan đến sản phẩm thì người tiêu dùng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm do họ đã mua và sử dụng.
Tuy nhiên, đa số sản phẩm cùng loại hiện nay có chất lượng tương đồng nhau, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh được với các đối thủ thì phải tính toán đến lợi thế của các yếu tố khác mà trong đó dịch vụ sau bán hàng là rất quan trọng. Dịch vụ sau bán hàng thể hiện mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến người tiêu dùng như thế nào, thể hiện trách nhiệm đối với sản phẩm dịch vụ do mình bán ra, đồng thời có các chính sách và cơ chế xử lý khi bất kỳ một vấn đề nào xảy ra đối với khách hàng của mình khi tiêu dùng sản phẩm. Nhìn chung, dịch vụ sau bán hàng trong nền kinh tế thị trường phát triển là văn minh, là cam kết của doanh nghiệp đối với khách hàng trọn đời sản phẩm mà họ cung ứng cho khách hàng.