CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về năng lực cạnh tranh 1. Một số khái niệm liên quan 1. Cạnh tranh Cạnh tranh có nguồn gốc từ tiếng latin: competere, nghĩa là tham gia đua tranh với nhau.
Cạnh tranh cũng có nghĩa là nỗ lực hành động để thành công hơn, đạt kết quả tốt hơn người đang có hành động như mình. Do đó, sự cạnh tranh là sự kiện, trong đó, cá nhân hay tổ chức cạnh tranh nhau để đạt thành quả mà không phải mọi người đều giành được. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" (Nguồn: Mác- Anghen toàn tập. Nxb sự thật- Hà nội năm 1978).
Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa TBCN và cạnh tranh TBCN Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh TBCN là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả CPSX và khả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận. Theo cuốn kinh tế học của Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh để giành khách hàng, thị trường” (Nguồn: P. Kinh tế học, Nxb Giáo dục Hà nội năm 2000).
Theo từ điểm Bách Khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” (Nguồn: Từ điểm Bách khoa. Nxb Từ điển Bách khoa Hà nội năm 1995) Qua các định nghĩa trên, có thể tiếp cận cạnh tranh như sau: 8 Thứ nhất, nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án). Một loạt điều kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng.) Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh. Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: cạnh tranh bằng đặc tính về chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá sản phẩm (chính sách định giá thấp; chính sách định giá cao; chính sách định giá ổn định; định giá theo thị trường; chính sách giá phân biệt; bán phá giá); cạnh tranh bằng nghệ thuật phân biệt sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán. Với cách tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu như sau: “Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…”.
Năng lực cạnh tranh Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, trong sách báo chuyên môn, cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng của các tổ chức kinh tế, nhà kinh doanh, chuyên gia kinh tế. 9 Theo sách, “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” thì khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đề cập đầu tiên ở Mỹ đầu năm 1980. Theo Alinton Report (năm 1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất SPDV với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp.
Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh (năm 1994). Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp (Anh) đưa ra định nghĩa: “Đối với doanh nghiệp, NLCT là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Nguyễn Hữu Thắng (Chủ biên) Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Nxb chính trị quốc gia, năm 2008.) Tuy nhiên, khái niệm NLCT đến nay vẫn chưa hiểu được một cách thống nhất. Theo Buckley (năm 1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Theo Collins và Polart (năm 1996), khái niệm năng lực cạnh tranh gắn với nhiệm vụ của doanh nghiệp với 3 yếu tố là: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình. Nguyễn Hữu Thắng (Chủ biên) Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
(Nxb chính trị quốc gia, năm 2008.) Các quan điểm trên đều có nét chung đó là: NLCT của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. 10 Như vậy, cho đến nay NLCT vẫn chưa được hiểu thống nhất. Từ những quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm NLCT của doanh nghiệp như sau: NLCT của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc tạo ra các giá trị gia tăng thỏa mãn đòi hỏi của khách hàng bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những SPDV hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. NLCT không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… mà NLCT của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của SPDV mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
NLCT còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Năng lực cạnh tranh sản phẩm/dịch vụ Năng lực cạnh tranh sản phẩm/dịch vụ là khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn hẳn so với những SPDV cùng loại. Hay có thể hiểu là khả năng mà SPDV đó bán được nhiều và nhanh chóng trên thị trường hơn SPDV tương tự. Năng lực cạnh tranh của SPDV được đo bằng thị phần của SPDV cụ thể trên thị trường.
Cạnh tranh SPDV thể hiện những lợi thế của SPDV so với đối thủ cạnh tranh Các chỉ tiêu đánh giá NLCT của SPDV bao gồm các chỉ tiêu cơ bản và các chỉ tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu cơ bản bao gồm giá thành và giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối và uy tín doanh nghiệp. Chỉ tiêu uy tín của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến NLCT sản phẩm, cho thấy mối quan hệ giữa NLCT của doanh nghiệp ảnh hưởng cơ bản và lâu dài đến NLCT sản phẩm. 11 Các chỉ tiêu đánh giá cụ thể NLCT của sản phẩm bao gồm các chỉ tiêu sau: + Thị phần của sản phẩm trên thị trường trong từng năm so với đối thủ cạnh tranh, có thể tính thị phần khi so với toàn bộ thị trường, so với phân đoạn (phân khúc) thị trường mà DN lựa chọn, so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất.
+ Mức sản lượng, doanh thu tiêu thụ của mặt hàng đó trong từng năm so với đối thủ cạnh tranh. + Mức chênh lệch về giá của mặt hàng so với đối thủ cạnh tranh. + Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh. + Mức độ hấp dẫn của sản phẩm về mẫu mã, kiểu cách so với các đối thủ cạnh tranh.
+ Ấn tượng về hình ảnh nhãn hiệu hàng hóa của nhà sản xuất ra mặt hàng đó so với hàng hóa cùng loại của các đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh Theo Michael Porter, LTCT được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng, các DN KD trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Bốn yếu tố tạo nên LTCT là: hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng. Chúng tạo thành một khối thống nhất của LTCT mà bất kỳ một DN hoạt động trong lĩnh vực nào cũng phải tuân theo.
Có thể nghiên cứu từng yếu tố tách biệt nhau như ở những phần dưới đây, song cần lưu ý rằng, giữa chúng có sự tương tác lẫn nhau rất mạnh. Theo Michael Porter, LTCT được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng, các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. LTCT giúp cho doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để thành công trong KD và trong cạnh tranh. Vai trò và công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm/dịch vụ 1.
Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm/dịch vụ Vai trò của việc nâng cao NLCT sản phẩm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao NLCT sản phẩm tại doanh nghiệp được xem là một hoạt động không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.