Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Thời gian nghệ thuật và quan niệm về Mùa trong thơ trung đại 1. Mùa – tín hiệu chỉ thời gian trong quan niệm của con người và trong thơ trung đại 1. Mùa – thời gian vũ trụ tĩnh tại, tuần hoàn Trong vũ trụ, vạn vật tồn tại, vận động, phát triển đều gắn liền với một thời gian nhất định.
Thời gian được xem là hình thức tồn tại của vật chất. Mùa cũng là một trong những đơn vị thời gian cơ bản nên có sự tương đồng với thời gian nghệ thuật trong thơ ca trung đại. Thời gian nghệ thuật không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính chủ quan. Giáo sư Trần Đình Sử đã nhấn mạnh: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể chiêm nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với các chiều dài thời gian quá khứ, hiện tại hay tương lai.
Nó có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian thực tế. Nó có thể đảo ngược hay vượt tới tương lai. Nó có thể dừng lại"[41; 77]. Điều đó có nghĩa là thời gian nghệ thuật không đơn thuần là thời gian vật lí luân chuyển tuần tự mà còn là thời gian tâm lí mang dấu ấn tâm trạng, cảm xúc của con người.
Trong văn học nói chung và văn học trung đại nói riêng, cảm nhận về thời gian càng có ý nghĩa quan trọng. Nó thể hiện nhận thức của con người về thế giới, về sự tồn tại của bản thân trong mối quan hệ với thế giới xung quanh. Do chịu ảnh hưởng về quan niệm thời gian trong thơ Đường và các hệ tư tưởng đặc biệt là Phật giáo nên đặc điểm nổi bật nhất trong cách cảm nhận về thời gian trong thơ ca trung đại là thời gian mang tính tĩnh tại, tuần hoàn. Thời gian bốn mùa xuân, hạ, thu, đông được các tác giả miêu tả sinh động trong các tác phẩm thơ ca giống như một vòng tròn với điểm bắt đầu là mùa xuân và kết thúc là mùa đông theo đúng chu trình: “xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng”.
Hết một vòng quay lại trở về với vị trí xuất phát ban đầu và cứ như vậy trở đi, trở lại không bao giờ thay đổi. Qua các chặng biển đổi thành, thịnh, suy, hủy của vạn vật mà con người cảm nhận được rõ hơn về quy luật sinh, lão, bệnh, tử của đời người. Vòng tròn tĩnh tại ấy vừa đem lại cho con download by : skknchat@gmail.com 13 người chiêm nghiệm về lẽ tất yếu của cuộc sống nhưng đồng thời cũng đem lại cảm giác bi quan, chán nản. Dòng thời gian của vũ trụ cứ chảy trôi bất tận trước sự ngắn ngủi, mong manh của đời người là nỗi ám ảnh thường trực trong quan niệm của người trung đại.
Quan niệm về thời gian tĩnh tại, tuần hoàn trước hết được thể hiện trong thơ Thiền. Thơ Thiền là thơ của các nhà sư, các cư sĩ làm để thể hiện sự ngộ đạo của mình trước lẽ hư vô của cuộc đời, để thể hiện cái tâm trong sáng. Trong bài thơ Cáo tật thị chúng, thiền sư Mãn Giác đã cảm nhận được sự luân chuyển nhịp nhàng của thời gian bốn mùa trong năm qua các hình ảnh: xuân qua, xuân tới, hoa rụng, hoa cười được đặt trong sự đối lập tương phản với tuổi già của con người: Xuân qua trăm hoa rụng Xuân tới trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Trên đầu, già tới rồi. Bên cạnh một thời gian luôn vận động, chảy trôi không ngừng đẩy con người tới bờ vực thẳm của tuổi già, bệnh tật thì nhà sư còn cảm nhận có một thời gian tĩnh tại, bất biến, không sinh, không diệt.
Đó là kết quả của sự ngộ đạo, khi ấy con người sẽ mang một sức mạnh diệu kì vượt lên những buồn đau, tuyệt vọng của sinh, lão, bệnh, tử mà tràn đầy tinh thần lạc quan như cành mai kia vẫn tươi xanh khoe sắc bất chấp xuân tàn: Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai Thời gian trong thơ Thiền là loại thời gian bất biến, thường trụ bởi không sinh mà cũng không diệt. Đó là loại thời gian dường như bị đóng băng trong hiện tại mà không có quá khứ, không có tương lai. Ở đấy các nhà thơ say sưa, chìm đắm trong vẻ đẹp thanh tịnh của thiên nhiên, của mây ngàn hạc nội, của những thú vui điền viên nên không còn có ý niệm về thời gian. Chỉ khi nhìn thấy tín hiệu cúc khoe sắc vàng mới biết thu sang, thấy hoa nở mới biết xuân về: download by : skknchat@gmail.com 14 Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.
Thấy nguyệt tròn thì kể tháng Nhìn hoa nở mới hay xuân (Tự thán, bài 32 – QÂTT) Không chỉ trong thơ Thiền mà trong thơ của các nhà Nho, thời gian bốn mùa cũng được cảm nhận là thời gian tĩnh tại, tuần hoàn. Trong tập thơ cung đình HĐQÂTT, các nhà thơ thời Hồng Đức đã tinh tế lắng nghe được nhịp bước của thời gian trong những khoảnh khắc: bốn mùa, 12 tháng trong năm, năm canh trong đêm. Tất cả các khoảnh khắc thời gian ấy đều trở thành những đối tượng tĩnh, không hề có sự vận động. Điều đó được thể hiện rõ qua bài thơ Vịnh mùa hè: Nghi ngút tàn mây tán lửa che, Rùng người thay bấy gọi là hè.
Hồng bay lựu, màn vây liễu, Hương nức sen, bóng rợp hòe. Tường nọ nhặt khoan vang tiếng cuốc, Cành kia dắng dỏi gẩy cầm ve. (Vịnh mùa hè – HĐQÂTT) Thời gian bốn mùa tuần hoàn, tĩnh tại được thể hiện qua các biểu tượng mùa tiêu biểu, đặc biệt là các cặp từ sóng đôi: xuân – thu; đông – hè. Các biểu tượng mùa ở đây xuất hiện như một quy luật muôn đời và không bao giờ thay đổi.
Điều đó thể hiện sự bất biến, vĩnh download by : skknchat@gmail.com 15 hằng của vũ trụ. Chính vì thế, mỗi mùa thiên nhiên có một nét đặc trưng riêng, mang một vẻ đẹp riêng, muôn đời biến thiên: Mưa thu tưới ba đường cúc, Gió xuân đưa một lảnh lan. (Ngôn chí, bài 16 - QÂTT) Thiên nhiên, vũ trụ muôn đời vẫn thế, luôn âm thầm vận hành theo bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhà thơ đến với thiên nhiên, nương nhờ vào thiên nhiên như đứa con thơ sà vào lòng mẹ hiền, tùy từng mùa mà họ tìm ra niềm vui cho riêng mình: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
(Thơ Nôm, bài 73 - Nguyễn Bỉnh Khiêm) Hai câu thơ mở ra trước mắt chúng ta cảnh sinh hoạt giản dị mà không kém phần thích thú của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nơi thôn dã với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông nhịp nhàng luân chuyển. Chuyện tắm, chuyện ăn trong đời sống sinh hoạt hàng ngày tuy đơn sơ nhưng thích thú ở chỗ mùa nào thức ấy, tất cả đều có sẵn trong tự nhiên, chẳng phải nhọc công tìm kiếm. Đời sống sinh hoạt nhịp nhàng ấy cho ta cảm nhận rõ về niềm hạnh phúc, sự thanh thản của cụ Trạng Trình khi từ quan về ở ẩn, xa lánh chốn quan trường ra luồn vào cúi, đang được sống tự do, tự tại, hòa hợp với thiên nhiên thuần khiết. Còn trong bài Tự tình II, quan niệm về vòng tuần hoàn tĩnh tại của thời gian được Hồ Xuân Hương cảm nhận rõ qua bước chân của mùa xuân đi rồi lại đến: Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con Sự đi - đến của mùa xuân nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người bởi đây là quy luật tuần hoàn của vũ trụ.
Và trong vẻ đẹp bất diệt của mùa xuân ấy, con người mang bao nhiêu những nỗi niềm, thổn thức riêng tư. download by : skknchat@gmail.com 16 Hay trong Chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm, ta thấy tính liên tục tuần hoàn của thời gian được hiện lên qua những hình ảnh biểu trưng: Thuở lâm hoành oanh chưa bén liễu (xuân) Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca (chuyển xuân sang hè) Nay quyên đã giục oanh già (hè) Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo (thu) Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió (đông) Hỏi ngày về chỉ độ đào bông (xuân) Nay đào đã quyến gió đông (hết xuân chuyển sang hè) Phù dung lại rã bên sông ba xòa (thu) Nét đặc sắc trong cách thể hiện bước luân chuyển thời gian bốn mùa của tác giả Đặng Trần Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm là thông qua những hình ảnh của những sinh thể trong đời sống tự nhiên: chim oanh, chim đỗ quyên, chim én, hoa mai, hoa đào, hoa phù dung. Nó là những biểu tượng muôn đời về mùa mang tính ước lệ, tượng trưng trong thơ ca trung đại. Chính vì thế, cả đoạn thơ không có một từ nào nói về thời gian nhưng người đọc vẫn cảm nhận được sự tuần hoàn trôi chảy bất tận của thời gian.
Thời gian vũ trụ cứ tuần hoàn, vô hạn, vĩnh hằng đối lập tương phản với sự ngắn ngủi, phù du của kiếp người. Đây là cảm thức chủ đạo chi phối các tác phẩm thơ ca trung đại. Trong cái nhìn đối sánh với độ dài vô tận của thời gian và sự chờ đợi của người chinh phụ chúng ta sẽ thấy nổi bật lên hình ảnh của một con người mòn mỏi, ngóng trông người chinh phu trở về trong nỗi cô đơn, thời gian cứ trôi đi mà bóng người chinh phu vẫn mịt mù tăm cá. Như vậy, trong quan niệm của con người nói chung và thơ ca trung đại nói riêng, mùa chính là quy luật tuần hoàn, tĩnh tại của tự nhiên.
Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của đất trời cứ nhịp nhàng luân chuyển tạo nên sự trôi chảy bất tận của thời gian. Nó hoàn hoàn đối lập với sự ngắn ngủi, hữu hạn của đời người. Chính vì thế mùa đi vào trong thơ ca trung đại mang bao nhiêu nỗi ám ảnh, day dứt. download by : skknchat@gmail.
Mùa - sự hòa hợp tương quan giữa thiên, địa, nhân Thiên – địa – nhân hợp nhất là một trong những tư tưởng tiêu biểu của triết học vùng văn hóa Đông Á. Tư tưởng này đã chỉ ra giữa con người và tự nhiên là một thể thống nhất, sự sinh tồn và sự phát triển chất lượng cuộc sống loài người chủ yếu dựa vào sự sinh tồn phát triển của vạn vật trong tự nhiên.