Đặt vấn đề Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH – HĐH) là một trong những mục tiêu hàng đầu của nƣớc ta trong xu thế hội nhập toàn cầu. Phát triển công nghiệp sẽ đem lại sự tăng trƣởng cho nền kinh tế quốc gia, trong đó khu kinh tế đặc biệt, khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) giữ vai trò vô cùng quan trọng. Khu công nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, tạo thuận lợi trong thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, tiếp nhận công nghệ tiên tiến, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp, đồng thời sẽ là cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nƣớc với các nền kinh tế quốc tế. Ngày 24 tháng 04 năm 1997, Chính Phủ ban hành Nghị định số 36/CP về Quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, tạo ra cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và vận hành khu công nghiệp tập trung trên phạm vi cả nƣớc.
Sau một thời gian áp dụng và hoàn thiện, ngày 14 tháng 3 năm 2008 Chính Phủ ban hành Nghị định số 29/CP của Thủ Tƣớng Chính phủ Qui định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thay thế cho nghị định 36/CP, đây là bƣớc tiến trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với các KCN trên cả nƣớc. Hòa cùng sự phát triển các khu công nghiệp trên khắp cả nƣớc, các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dƣơng ra đời đã trở thành địa điểm hấp dẫn thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc cùng với các khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai và Thành Phố Hồ Chí Minh. Bình Dƣơng, Đồng Nai và Thành Phố Hồ Chí Minh tạo thành tam giác kinh tế trọng điểm phía nam, mang lại gia tăng cho GDP quốc gia, góp phần thực hiện mục tiêu đƣa nƣớc ta từ một nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên một nƣớc công nghiệp hiện đại, tiên tiến. Tính cấp thiết của đề tài Tỉnh Bình Dƣơng là một trong những tỉnh đứng đầu nƣớc ta về phát triển công nghiệp cùng với Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng cộng 28 khu 2 công nghiệp đang hoạt động, có tổng diện tích qui hoạch đƣợc duyệt là 7.187,09 ha, trong đó có khu công nghiệp Mỹ Phƣớc.
Với một tỉnh có số lƣợng khu công nghiệp nhiều và qui mô lớn nhƣ trên, việc quản lý hiệu quả hoạt động từng khu công nghiệp là vô cùng cấp thiết, trong đó đối tƣợng là các doanh nghiệp (DN) đang hoạt động trong khu công nghiệp. Nếu công tác quản lý các doanh nghiệp đang hoạt động trong khu công nghiệp không đƣợc chú trọng đúng mức thì sẽ dẫn đến hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp gặp trở ngại, môi trƣờng khu công nghiệp bị ô nhiễm, an ninh khu vực không đƣợc đảm bảo, thất thu thuế…Điều đó sẽ ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng đầu tƣ tại khu công nghiệp. Ngƣợc lại, công tác quản lý các doanh nghiệp đang hoạt động trong khu công nghiệp hiệu quả, sẽ đem lại sự phát triển mạnh mẽ cho KCN, góp phần phát triển kinh tế tại địa phƣơng và cho cả quốc gia. Khu công nghiệp Mỹ Phƣớc (gồm Mỹ Phƣớc 1, Mỹ Phƣớc 2, Mỹ Phƣớc 3, Bàu Bàng, Thới Hòa) là khu công nghiệp có qui mô lớn nhất tỉnh Bình Dƣơng, có tổng diện tích khoảng 6.200 ha (trong đó đất công nghiệp 3.000 ha, đô thị và dịch vụ 3.200 ha) và là khu công nghiệp điển hình của tỉnh Bình Dƣơng.
Với quan điểm lần đầu tiên tại Việt Nam áp dụng mô hình xây dựng mô hình Khu công nghiệp phức hợp, trong đó không chỉ thu hút các hoạt động sản xuất công nghiệp mà còn có các hoạt động dịch vụ, thƣơng mại, đô thị và dân cƣ nhằm đảm bảo một sự phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu tại khu công nghiệp này giúp nâng cao đƣợc công tác quản lý khu công nghiệp, gia tăng thu hút đầu tƣ, mang lại sự thuận lợi trong hoạt động sản xuất cho các doanh nghiệp trong KCN và góp phần phát triển kinh tế- xã hội. Đồng thời có thể vận dụng đƣợc cho các khu công nghiệp khác trong tỉnh Bình Dƣơng và cho các khu công nghiệp trên cả nƣớc. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện môi trƣờng hoạt động của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng đến năm 2020” làm đề tài luận văn thạc sỹ, ngành Quản trị kinh doanh.
Mục tiêu của đề tài Đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện môi trƣờng hoạt động của các doanh nghiệp đầu tƣ tại KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng đến năm 2020. Nội dung nghiên cứu Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu cần giải quyết các vấn đề sau: - Thứ nhất, hệ thống hóa các cơ sở lý luận về KCN, hoạt động của doanh nghiệp đầu tƣ trong KCN và các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động của doanh nghiệp đầu tƣ trong KCN. - Thứ hai, tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động của các doanh nghiệp đầu tƣ tại KCN Mỹ Phƣớc, tỉnh Bình Dƣơng trong thời gian qua. - Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện môi trƣờng hoạt động các doanh nghiệp tại KCN Mỹ Phƣớc, tỉnh Bình Dƣơng đến năm 2020.
Đồng thời đƣa ra các kiến nghị đối với Nhà Nƣớc và tỉnh Bình Dƣơng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Các doanh nghiệp hoạt động tại KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng. - Phạm vi nghiên cứu: + Về mặt không gian: đƣợc giới hạn trong KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng. + Về mặt thời gian: nghiên cứu môi trƣờng hoạt động của các doanh nghiệp tại KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng từ năm 2009 đến năm 2012, các giải pháp đề xuất đƣợc áp dụng từ nay đến năm 2020.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Phƣơng pháp luận: 4 Vận dụng các chủ trƣơng, chính sách của Chính Phủ về phát triển công nghiệp, các lý thuyết về quản trị học, học thuyết về kinh tế truyền thống và hiện đại vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam nói chung và khu công nghiệp Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng nói riêng. Nghiên cứu một số khu công nghiệp trong nƣớc và trong tỉnh Bình Dƣơng để rút ra những bài học kinh nghiệm, đề ra các giải pháp áp dụng phù hợp vào KCN Mỹ Phƣớc. Phƣơng pháp nghiên cứu: Sử dụng phƣơng pháp thống kê; phƣơng pháp đối chiếu so sánh, xử lý số liệu và đánh giá kết quả; phƣơng pháp chuyên gia.
● Nguồn số liệu sơ cấp: - Đối tƣợng khảo sát: 80 doanh nghiệp đang hoạt động tại KCN Mỹ Phƣớc tỉnh Bình Dƣơng. - Phƣơng pháp khảo sát: Tác giả gởi Bảng khảo sát trực tiếp cho trƣởng, phó phòng hoặc Ban Giám đốc của các doanh nghiệp; hoặc gởi cho tiếp tân của các doanh nghiệp và nhờ chuyển đến các vị trí trên, sau đó nhận lại kết quả khảo sát trong 2 tuần. Sau khi có đầy đủ số liệu sẽ đƣợc xử lý bằng phần mềm Excel 2007 (xem phụ lục 3). ● Nguồn số liệu thứ cấp: - Các giáo trình, sách liên quan đến đề tài.
- Các bộ luật của Quốc Hội; nghị định, thông tƣ, các báo cáo của Chính Phủ và các Bộ - Ngành. - Các bài báo, tạp chí, số liệu của cơ quan thống kê, internet… - Tài liệu, báo cáo năm của Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bình Dƣơng và Ban quản lý khu công nghiệp Mỹ Phƣớc. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƢỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ TRONG KCN 1. Doanh nghiệp trong khu công nghiệp 1.
Khái niệm khu công nghiệp 1. Khu công nghiệp Khái niệm về khu công nghiệp trên thế giới: Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp, khu chế xuất (đƣợc gọi chung là khu công nghiệp), trong đó có thể nêu ra một số định nghĩa cơ bản sau: Định nghĩa KCN của Hội nghị địa lý Thế Giới lần thứ 19 tại Thụy Điển, năm 2000: “Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng, có nền tảng là sản xuất công nghiệp đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ; kể cả các hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thƣơng mại, văn phòng, nhà ở”. Định nghĩa khu chế xuất của Ngân hàng Thế giới (World Bank): “Khu chế xuất là khu có hàng rào trong khu công nghiệp, chuyên sản xuất hàng xuất khẩu trong đó các doanh nghiệp đƣợc tạo điều kiện thƣơng mại và hoạt động trong môi trƣờng thông thoáng”. Định nghĩa khu chế xuất của Cơ quan nghiên cứu phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO): “Khu chế xuất là khu vực tƣơng đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia, nhằm mục tiêu thu hút đầu tƣ vào các ngành công nghiệp xuất khẩu bằng 6 cách cung cấp cho những ngành này những điều kiện về đầu tƣ và mậu dịch thuận lợi”.
Tóm lại, trên Thế giới hiện nay tồn tại song song 07 loại hình khu công nghiệp nhƣ sau: - Loại hình 1: Cảng tự do (Free Port) Cảng Tự do đƣợc thiết lập từ những năm thế kỷ thứ 18 đến thế kỷ thứ 19, do các chế độ thực dân tìm những con đƣờng để phát triển thƣơng mại, ở đó đƣợc lƣu trữ hàng hóa miễn thuế với sự giảm thiểu thủ tục thuế quan. - Loại hình 2: Khu chế xuất (Export Processing Zone) Khu chế xuất đƣợc hình thành vào khoảng từ năm 1960, đầu tiên tại Shannon (Ireland). Có thể hiểu khu chế xuất là công viên công nghiệp khoảng từ 40-80 ha, bao bọc bởi một hàng rào ngăn cách, kiểm soát bởi cơ quan thuế quan hoặc Ban quản lý khu chế xuất. Khu vực mà Nhà nƣớc cần khuyến khích dành cho những ƣu đãi đặc biệt để họ vào xây dựng cơ sở vật chất, nhà máy xí nghiệp chuyên sản xuất hàng cho xuất khẩu.
Hàng sản xuất ở đây phần lớn đƣợc xuất khẩu ra nƣớc ngoài, một phần tiêu thụ nội địa. - Loại hình 3: Khu công nghiệp tập trung (Industrial Park) Đây là khu vực tập trung những nhà đầu tƣ vào các ngành công nghiệp mà Nhà nƣớc cần khuyến khích, ƣu đãi. Tại đây, Chính phủ nƣớc sở tại sẽ dành cho các nhà đầu tƣ những ƣu đãi cao về thuế, về các biện pháp đối xử phi thuế quan, về quyền chuyển lợi nhuận ra nƣớc ngoài…Trong khu công nghiệp có thể có hoặc không có doanh nghiệp khu chế xuất. - Loại hình 4: Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone) Đặc khu có hàng rào hoặc biên giới ngăn cách rõ ràng với đại lục, mọi vấn đề kinh tế, thƣơng mại, đầu tƣ, dịch vụ…đều do chính quyền đặc khu quyết định.