Luận văn: Khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam - Thực tiễn Hà Tĩnh

Nghiên cứu chuyên sâu về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam. Luận văn phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2018

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

Khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm. Theo Điều 30 Hiến pháp năm 2013, mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những quyết định, hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, quyền này được cụ thể hóa tại Chương XXXV Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015. Khác với khiếu nại, tố cáo thông thường theo Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự mang tính đặc thù cao, liên quan trực tiếp đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Việc phân biệt rõ ràng giữa khiếu nại và tố cáo là nền tảng để áp dụng đúng quy trình giải quyết. Khiếu nại thường hướng đến việc yêu cầu xem xét lại quyết định hoặc hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi tố cáo nhằm phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong quá trình tố tụng. Nghiên cứu của Nguyễn Trần Chung (2018) cho thấy, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, nhiều trường hợp khiếu nại tố cáo bị xử lý không đúng bản chất do thiếu hiểu biết pháp luật từ cả người dân lẫn cán bộ thực thi. Do đó, làm rõ khái niệm, đặc điểm và phạm vi áp dụng là bước đầu tiên để nâng cao hiệu quả thực thi quyền này.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại trong tố tụng hình sự

Khiếu nại trong tố tụng hình sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng khi cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đặc điểm nổi bật là: (i) chỉ phát sinh trong quá trình tố tụng; (ii) đối tượng khiếu nại là quyết định, hành vi tố tụng cụ thể; (iii) người khiếu nại phải là đương sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. BLTTHS năm 2015 quy định rõ các quyết định có thể bị khiếu nại như: khởi tố, tạm giam, khám xét, thu giữ tài sản…

1.2. Bản chất pháp lý của tố cáo trong tố tụng hình sự

Tố cáo trong tố tụng hình sự là hành vi của công dân báo cho cơ quan có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong hoạt động tố tụng, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khác với tố giác tội phạm, tố cáo không nhằm khởi xướng vụ án mà tập trung vào hành vi sai phạm của người có thẩm quyền. Pháp luật yêu cầu tố cáo phải được xử lý kịp thời, khách quan và bảo vệ người tố cáo. Đây là cơ chế giám sát nội bộ quan trọng trong hệ thống tư pháp.

II. Những thách thức lớn trong giải quyết khiếu nại tố cáo hình sự hiện nay

Thực tiễn áp dụng cho thấy giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là tình trạng khiếu nại vượt cấp, kéo dài, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp. Theo số liệu từ luận văn của Nguyễn Trần Chung (2018), tại tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011–2016, hơn 40% đơn thư khiếu nại tố cáo liên quan đến tố tụng hình sự bị xử lý chậm hoặc chưa đúng thẩm quyền. Nguyên nhân chính bao gồm: (i) quy định pháp luật còn chồng chéo giữa BLTTHS, Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo; (ii) năng lực chuyên môn và ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế; (iii) thiếu cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả. Ngoài ra, thiếu minh bạch trong quy trình giải quyết khiến người dân nghi ngờ tính khách quan, dẫn đến tái khiếu nại nhiều lần. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan tư pháp mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định an ninh trật tự xã hội.

2.1. Mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật hiện hành

Một rào cản pháp lý nghiêm trọng là sự thiếu đồng bộ giữa Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Khiếu nạiLuật Tố cáo. Ví dụ, BLTTHS quy định thời hạn giải quyết khiếu nại là 7–15 ngày, trong khi Luật Khiếu nại lại quy định 30–45 ngày. Sự mâu thuẫn này khiến cơ quan có thẩm quyền lúng túng trong áp dụng, dẫn đến xử lý chậm trễ hoặc sai lệch. Ngoài ra, khái niệm “quyết định tố tụng” chưa được định nghĩa rõ ràng, gây tranh cãi trong xác định đối tượng khiếu nại.

2.2. Hạn chế về năng lực và nhận thức của cán bộ tư pháp

Nhiều cán bộ tiến hành tố tụng chưa nắm vững quy định về khiếu nại tố cáo, dẫn đến việc từ chối tiếp nhận đơn không đúng hoặc giải quyết hình thức. Tại một số địa phương, công tác đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng xử lý khiếu nại, tố cáo gần như bị bỏ qua. Hệ quả là người dân không được hướng dẫn đầy đủ, dễ rơi vào tình trạng khiếu kiện kéo dài. Đây là nguyên nhân sâu xa làm suy giảm hiệu lực của cơ chế bảo vệ quyền công dân trong tố tụng hình sự.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật về khiếu nại tố cáo hình sự

Để khắc phục những bất cập, cần hoàn thiện pháp luật về khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự theo hướng đồng bộ, minh bạch và khả thi. Trước hết, nên xây dựng một chương riêng trong BLTTHS quy định đầy đủ từ chủ thể, đối tượng, trình tự đến trách nhiệm giải quyết, tránh phụ thuộc vào Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo. Đồng thời, cần xác định rõ phạm vi đối tượng khiếu nại, bao gồm tất cả quyết định và hành vi tố tụng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Về trách nhiệm giải quyết, nên quy định cụ thể thời hạn, hậu quả pháp lý nếu vi phạm và cơ chế giám sát độc lập. Một giải pháp then chốt là thiết lập cơ quan chuyên trách thuộc Viện Kiểm sát hoặc Tòa án để tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, đảm bảo tính khách quan và chuyên nghiệp. Các đề xuất này phù hợp với khuyến nghị của Ủy ban Tư pháp Quốc hội và kinh nghiệm quốc tế về cơ chế khiếu nại trong tư pháp hình sự.

3.1. Đề xuất sửa đổi quy định về chủ thể và đối tượng khiếu nại

Hiện nay, chủ thể khiếu nại trong BLTTHS bị giới hạn, chưa bao gồm người bào chữa hoặc người làm chứng trong một số trường hợp. Cần mở rộng để bảo vệ đầy đủ quyền lợi của tất cả bên tham gia tố tụng. Về đối tượng khiếu nại, nên liệt kê cụ thể các quyết định có thể khiếu nại (ví dụ: từ chối cho bào chữa, không trả hồ sơ điều tra...) và loại trừ những quyết định mang tính nội bộ, không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi cá nhân.

3.2. Xây dựng quy trình giải quyết minh bạch có kiểm soát

Quy trình giải quyết khiếu nại tố cáo cần được chuẩn hóa bằng sơ đồ minh họa, kèm theo thời hạn cụ thể cho từng bước. Ngoài ra, nên bổ sung cơ chế phản hồi bắt buộckhiếu nại lần hai lên cấp trên trực tiếp. Đặc biệt, cần có quy định về bảo vệ người tố cáo, tránh trả thù hoặc trù dập – một vấn đề nhức nhối trong thực tiễn. Việc số hóa hồ sơ khiếu nại cũng giúp tăng tính minh bạch và truy xuất thông tin.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại tố cáo tại địa phương

Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu tại tỉnh Hà Tĩnh cho thấy, để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự, cần kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác này, coi đây là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp địa phương. Tiếp theo, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo cần được triển khai thường xuyên qua nhiều kênh: truyền thanh xã, mạng xã hội, hội nghị dân phố. Đồng thời, nâng cao năng lực cán bộ thông qua đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tiếp nhận, xử lý và phản hồi đơn thư. Một yếu tố then chốt khác là nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự ngay từ đầu – vì đa số khiếu nại phát sinh từ sai sót trong quá trình điều tra, truy tố. Cuối cùng, cần tăng cường phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án trong tiếp nhận và xử lý đơn thư, tránh đùn đẩy trách nhiệm.

4.1. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về quyền khiếu nại tố cáo

Nhiều người dân không biết quyền khiếu nại tố cáo của mình hoặc không rõ cách thức thực hiện. Do đó, cần tổ chức các chiến dịch truyền thông định kỳ, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, ví dụ minh họa cụ thể. Tài liệu hướng dẫn nên được in song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số) ở vùng sâu, vùng xa. Việc này giúp người dân chủ động bảo vệ quyền lợi, đồng thời giảm đơn thư vượt cấp do hiểu lầm.

4.2. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Cần xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế phối hợp liên ngành về tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự. Mỗi đơn thư phải được đăng ký tập trung, phân luồng theo thẩm quyền và có mã theo dõi. Cơ quan tiếp nhận đầu tiên chịu trách nhiệm hướng dẫn hoặc chuyển đơn đúng nơi, tránh để người dân đi lại nhiều lần. Đây là giải pháp thực tiễn đã được áp dụng thí điểm thành công tại một số tỉnh như Thừa Thiên Huế và Nghệ An.

V. Câu hỏi thường gặp về khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự

Người dân thường đặt ra nhiều câu hỏi tìm kiếm liên quan đến khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự, phản ánh nhu cầu thông tin thực tế cao. Trong đó, phổ biến nhất là: (1) Ai có quyền khiếu nại trong vụ án hình sự? – Câu trả lời: đương sự, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của bị hại, nguyên đơn dân sự... (2) Khiếu nại quyết định khởi tố có được không? – Có, theo Điều 472 BLTTHS 2015. (3) Tố cáo cán bộ điều tra thì gửi đến đâu? – Gửi đến Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên hoặc Viện trưởng VKS cùng cấp. (4) Thời hạn giải quyết khiếu nại là bao lâu? – Từ 7 đến 15 ngày, tùy tính chất phức tạp. (5) Khiếu nại sau khi bản án có hiệu lực thì xử lý thế nào? – Không thuộc phạm vi BLTTHS, mà chuyển sang thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo Luật Khiếu nại. Việc cung cấp câu trả lời rõ ràng, chính xác sẽ giúp giảm đáng kể đơn thư khiếu nại sai thẩm quyền và nâng cao niềm tin vào hệ thống tư pháp.

5.1. Phân biệt khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hình sự

Khiếu nại nhằm yêu cầu xem xét lại quyết định/hành vi tố tụng; tố cáo nhằm tố giác hành vi vi phạm của cán bộ tư pháp. Khiếu nại do người bị ảnh hưởng trực tiếp thực hiện; tố cáo có thể do bất kỳ công dân nào. Khiếu nại giải quyết theo BLTTHS; tố cáo có thể chuyển sang cơ quan thanh tra hoặc kiểm tra đảng nếu liên quan đến kỷ luật.

5.2. Hướng dẫn nộp đơn khiếu nại đúng quy trình

Đơn khiếu nại trong tố tụng hình sự phải gửi đến người đã ra quyết định hoặc hành vi bị khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả, có thể khiếu nại lần hai lên cấp trên trực tiếp trong 7 ngày. Đơn phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, nội dung khiếu nại, tài liệu kèm theo. Không bắt buộc phải có chữ ký công chứng. Cơ quan có trách nhiệm phải thông báo kết quả bằng văn bản.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. 231 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TÔ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VE KHIEU NAL TÓ CAO. CHỦ THẺ KHIÊU NẠI, TÓCCÁO TRONG 616 TUNG HIN SU. Chủ thể khiếu nại trong tổ tụng hình sự.

eeeeie Chủ thể tổ cáo trong tổ tụng hình sự. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu để tài hiểu nại, tổ cáo trong tổ tụng hinh sự Việt Nam cỏ ÿ nghĩa dặc biệt quan trọng, là một trong những quyền cơ bản của công đân được IHẻn pháp quy định. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội nước ta đã thêng qua Luật khiêu nại, Luật Lố cáo để đảm bảo phủ hợp thực tế. Đây là cơ sở pháp lý để cơ quan, tổ chức, cả nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu bị các cơ quan nhà nước thoặc cá nhân có thâm quyền có hành vị xâm phưm trong khi thủ hành công vụ.

Vẻ lĩnh vực tế tụng hình sự, ngay trong Độ luật tổ tụng hình sự đầu tiên của hà nước ta (BLITHS nim 1988) cũng đã có một số điều quy định về quyển khiếu nại, tổ cáo của công đân đối với hành vĩ hoặc quyết định của các co qiưani tiến hành tỏ tụng, người tiền hành tổ tụng, Hiện nay, BLTTH8 năm 2003 dang ap đụng đá có riêng một chương (Chương 35) trong Phẩn Thủ tục đặc biệt để quy định về khiếu nại, tổ cáo trong tổ tụng hình sự; các quy dinh này về cơ bân đã tạo một số điều kiện thuận lợi nhất định cho quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình tiên hành tổ tụng hình sự Tuy nhiên, qua nghiền cửu thực tiễn hoạt động tổ tụng hình sự ở nước ta trong những năm qua cho thấy tình hình khiếu nại, tổ cáo về tổ tụng hình sự nói chang còn oó những điễn biến phức tạp. Tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dai vẫn thưởng xuyên xây ra, trong đỏ cỏ những vụ dã có quyết dịnh giải quyết cuối cùng của người có thảm quyền theo luật định, có những vụ khiếu kiện say xên xao dư luận, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh thưởng đến uy tín của cơ quan tiến hành tổ tụng, Trén dia ban tinh Ila Tinh trong thời gian qua, nếu tính về số lượng thì việc khiếu nại, tố cáo trong tổ tụng hình sự có những năm (ng, có những nắm giảm, nhưng tinh chat và quy mỏ khiểu kiện có chiều hướng phức tạp hon do trình dé đân trí, trình độ hiểu biết pháp luật ngảy cảng được nâng cao, dan chi trong tố tụng hình sự ngáy càng được phát huy. Đảng chủ ý là tình trạng khiếu nại vượt 3. MỘT SỐ GIẢI PHẢP NÂNG CAO HIỆU QUÁ GIẢI QUYẾT KHIEU NAL, TO CAO TRONG TO TUNG HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA.

BAN TINH HA TINH 0c ceccsesssessieseecsstestenten 3. Tầng cường sự lãnh đạo củaia Bong đổi với các cơ quan tiến hành tô tụng hình sự trong việc giải quyết khiếu nại, tổ cáo. Chú trọng tuyên truy n phổ biển giáo dục pháp luật, pháp h Kkhiểu nại, tổ cáo nói chưng và pháp luật về khiếu nại, tổ cáo trong tổ tụng hình sự nói riêng cho mọi tẳng lớp nhân dân. Ö84 Nâng cao năng lực, ý thức pháp luật của cán bộ công chức tiên hành tổ tụng bìnhsự trên địa bản.4 Nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự 88 3.

"Tăng cường chỉ đạo các cơ quan tiến hành tổ tụng hình sự thục hiện nghiêm túc công tác tiếp công dân, phối hợp, thực hiện tốt quy chế liên ngành về tiếp nhận giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo trang tố tụng hình sự. 94 KT LUẬN CIIƯỜNG 3 99 KET LUAN CHUNG ” see LOO DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO.„103 cấp, kéo dài, bức xúc xảy ra ở một số dịa phương cáp huyện, làm ảnh hướng dén an ninh chỉnh trị và trật tự an toàn xã hội. Trong sẻ đó có một số Ít trường hợp mặc đủ đã được cấp có thâm quyển giải quyết cuối cùng trã lời nhưng vì có khiểu nại lên cấp trên bức xúc kẻo dài nên cấp trên đã xem xét lại và xác định là khiếu nại đúng, một số cơ quan có thấm quyền giải quyết đã giải quyết không đúng. Mặc dù hiện may Quốc hội đã thông qua các đạo luật riêng về giải quyết khiểu nại, tổ cảo nhưng các luật nảy mới chỉ diều chỉnh trong lĩnh vực dân sự và hành chính, không quy đỉnh trong lĩnh vực tế tụng hình sự.

BLTTHS năm 2003 (Chương 35) và mới đây là Bộ luột tổ tụng hình sự năm 2015 (Chương 33) đã bỗ sung thêm một số quy dịnh mới về khiếu nại, tỏ cáo trong tổ tụng hình sự. Đồng, thời, Liên ngành tư pháp Trung ương vả các ngành cũng đã có một số văn ban hưởng dẫn giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc linh vục của ngảnh, Luy vậy các nội dung hưởng dẫn về tình tự, thủ tục tiến hành giải quyết khiếu nại, tổ cáo con kha nhiều bắt cập, chưa đây đủ cũng như chưa có văn bản hướng, dẫn các quy định mới nên các dịa phương vẫn gặp nhiễu lúng túng, thiểu thống nhất trong việc giải quyết. Dây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho hiệu quá giải quyết khiếu nại, tổ cáo của công đân trong hoạt động tổ tụng hình sự nói chung đạt hiệu quả chưa cao, thậm chí còn tiếp tục phát sinh khiếu kiện về công tác giải quyết khiếu nại, tổ cáo của cơ quan tiến hành tổ tụng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc hem nữa vẻ khiêu nại, tố cáo trong tô tụng tình sự là cần thiết.

Đây chính là lý do để tôi lựa chọn “Khiếu nại, tà cáo trong th tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sử tực tẫn địa bàn tinh 11à Tĩnh)" làm đê tài luận văn thạc sĩ luật học của mình. Tình hình nghiên củu có Bên quan đến đề tài Khiéu nại, tố cáo treng tổ tụng hình sự là một trong những nội dung quan trọng thể hiệu quyền cơ bản của công dan, cd quan hệ mật thiết với pháp luật về Khiếu nại, tổ cào và các quy dịnh về khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực khác. l2o vậy, đưới những góc độ nhật định, quy định này đã được một số các nhà khoa học, các luật gia nghiên cứu. Cự thể kẻ MO DAU 1.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu để tài hiểu nại, tổ cáo trong tổ tụng hinh sự Việt Nam cỏ ÿ nghĩa dặc biệt quan trọng, là một trong những quyền cơ bản của công đân được IHẻn pháp quy định. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội nước ta đã thêng qua Luật khiêu nại, Luật Lố cáo để đảm bảo phủ hợp thực tế. Đây là cơ sở pháp lý để cơ quan, tổ chức, cả nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu bị các cơ quan nhà nước thoặc cá nhân có thâm quyền có hành vị xâm phưm trong khi thủ hành công vụ. Vẻ lĩnh vực tế tụng hình sự, ngay trong Độ luật tổ tụng hình sự đầu tiên của hà nước ta (BLITHS nim 1988) cũng đã có một số điều quy định về quyển khiếu nại, tổ cáo của công đân đối với hành vĩ hoặc quyết định của các co qiưani tiến hành tỏ tụng, người tiền hành tổ tụng, Hiện nay, BLTTH8 năm 2003 dang ap đụng đá có riêng một chương (Chương 35) trong Phẩn Thủ tục đặc biệt để quy định về khiếu nại, tổ cáo trong tổ tụng hình sự; các quy dinh này về cơ bân đã tạo một số điều kiện thuận lợi nhất định cho quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình tiên hành tổ tụng hình sự Tuy nhiên, qua nghiền cửu thực tiễn hoạt động tổ tụng hình sự ở nước ta trong những năm qua cho thấy tình hình khiếu nại, tổ cáo về tổ tụng hình sự nói chang còn oó những điễn biến phức tạp.

Tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dai vẫn thưởng xuyên xây ra, trong đỏ cỏ những vụ dã có quyết dịnh giải quyết cuối cùng của người có thảm quyền theo luật định, có những vụ khiếu kiện say xên xao dư luận, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh thưởng đến uy tín của cơ quan tiến hành tổ tụng, Trén dia ban tinh Ila Tinh trong thời gian qua, nếu tính về số lượng thì việc khiếu nại, tố cáo trong tổ tụng hình sự có những năm (ng, có những nắm giảm, nhưng tinh chat và quy mỏ khiểu kiện có chiều hướng phức tạp hon do trình dé đân trí, trình độ hiểu biết pháp luật ngảy cảng được nâng cao, dan chi trong tố tụng hình sự ngáy càng được phát huy. Đảng chủ ý là tình trạng khiếu nại vượt MUC LUC Trang Trang phụ bìa Loi cam đoan 'Mục lục Danh muc cáo từ viết tắt Danh mục bảng, sơ dỗ MỞ BÁU 1 Chương 1: MỘT SỐ VĂN ĐẺ CHUNG VỆ KHIẾU NẠI, TÔ CÁO TRONG TÔ TỤNG HÌNH SỰ. 7 11 KHAI QUAT VE KHIEU NAL, TO CAO 7 1. Khái miệm khiếu nại, tổ cáo.

Khigu nai, t6 cao 1a mét trong nhiing quyền cơ bản của công din 8 1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIÊM CUA KHTRU NAT, TO CAO TRONG TO TUNG HÌNH SỰ 10 1. Khái niệm, đặc điểm của khiểu nại 10 1. Khái niệm, đặc điểm của 16 cáo 13 1. Tỉnh đặc thủ của khiếu nại, té cáo trong tổ tụng hình sự.

PHAN BIBT KHIRU NAI, TO CAO VGT MOT SO HANH VI KHAC TRONG TÓ TỤNG HÌNH SỰ. Phân biệt khiếu mại quyết định tổ lạng, hành vị lố tụng với khiểu nại bản án có hiệu lực pháp luật. Phân biệttỏ cáo trong tỏ tụng hình sự với tổ giác tôi3 phạm. Phân biệt khiếu nại, tổ cáo trong tổ tụng hình sự với các quy định về khiếu nại, tổ cáo trong Luật Khiếu nại, Luột Tổ cáo hiện nay.

SỰ HÌNH 'THANH VA PHAT ‘TRIEN CUA PHÁP LUẬT VỀ KHIỂU NAL TO CÁO TRONG TỔ TỤNG HỈNH SỰ VIỆT NAM. wed KỨT LUẬN CHƯƠNG 1. 231 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TÔ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VE KHIEU NAL TÓ CAO. CHỦ THẺ KHIÊU NẠI, TÓCCÁO TRONG 616 TUNG HIN SU.

Chủ thể khiếu nại trong tổ tụng hình sự. eeeeie Chủ thể tổ cáo trong tổ tụng hình sự. DANIIMUC BANG, SO DO Số hiệu Tên bảng, sự đã Trang Bảng 3.1: | Tổng hợp kết quả xử lý dơn thư khiéu nại, tổ cáo của Công an tính LIà Tĩnh (giai đoạn 2011 - 2016) 69 > So dé minh hoa qué tinh gidi quyét khiéu nại trong tố So 462.1 tụng hình sự sl So dé 2.2: | Sơ đổ minh họa giải quyết tổ cáo trong tổ tạng hình sự 54 DANIIMUC BANG, SO DO Số hiệu Tên bảng, sự đã Trang Bảng 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ