Luận văn thạc sĩ: Kế toán thu chi tại Trung tâm Phát triển ĐHQG Hòa Lạc

Luận văn thạc sĩ kế toán hoạt động thu chi tại Trung tâm Phát triển ĐHQG Hà Nội Hòa Lạc. Nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tài chính.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2021

145
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn tập luận văn kế toán thu chi ĐHQG Hòa Lạc

Việc thực hiện một khóa luận tốt nghiệp kế toán thu chi tại một đơn vị đặc thù như Trung tâm Phát triển ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về cả lý luận và thực tiễn. Đây là một đơn vị hành chính sự nghiệp công lập có thu, hoạt động chủ yếu bằng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp, đồng thời có các nguồn thu khác từ hoạt động dịch vụ. Luận văn về chủ đề này không chỉ là một bài tập học thuật mà còn là công cụ quan trọng để phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp cải thiện công tác quản lý tài chính công. Mục tiêu chính của các nghiên cứu dạng này là hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán thu chi, phân tích thực trạng tại đơn vị, từ đó chỉ ra những điểm mạnh và những tồn tại cần khắc phục. Luận văn "Kế toán hoạt động thu, chi tại Trung tâm phát triển ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc" của tác giả Khuất Quỳnh Thăng là một công trình tiêu biểu, cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình tài chính tại một đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát chặt chẽ các khoản thu và chi để đảm bảo sử dụng nguồn lực hiệu quả, minh bạch và tuân thủ các quy định của nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh các trường đại học đang hướng tới tự chủ tài chính.

1.1. Cơ sở lý luận về kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp

Một đơn vị sự nghiệp công lập có thu được định nghĩa là đơn vị do nhà nước thành lập nhằm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, hoạt động chủ yếu bằng ngân sách nhà nước nhưng đồng thời được phép có các nguồn thu khác như phí, lệ phí, và doanh thu từ hoạt động dịch vụ. Đặc điểm cốt lõi của loại hình đơn vị này là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, gắn liền với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Về mặt tài chính, các đơn vị này phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách. Nhiệm vụ của kế toán là thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình sử dụng kinh phí, tài sản công, giúp lãnh đạo đơn vị và cơ quan chức năng giám sát hiệu quả quản lý tài chính công. Các chuẩn mực kế toán công Việt Nam là khung pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động này, đảm bảo tính nhất quán và minh bạch trong hạch toán.

1.2. Ý nghĩa của báo cáo thực tập kế toán thu chi trong nghiên cứu

Một báo cáo thực tập kế toán thu chi hay một chuyên đề kế toán thu chi là tiền đề quan trọng cho việc thực hiện luận văn thạc sĩ. Các báo cáo này cung cấp dữ liệu thực tế, giúp sinh viên, học viên nhận diện được các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày tại đơn vị. Thông qua việc phân tích chứng từ kế toán thu chi, sổ sách và báo cáo tài chính, người nghiên cứu có thể hiểu rõ quy trình kế toán thu chi thực tế, so sánh với lý thuyết đã học và các quy định hiện hành. Đây là cơ sở để xác định những bất cập, hạn chế trong công tác kế toán của đơn vị, từ đó hình thành các giả thuyết và mục tiêu nghiên cứu cho luận văn. Ví dụ, qua khảo sát thực tế, tác giả có thể nhận thấy quy trình luân chuyển chứng từ còn chậm, hoặc việc phân loại các khoản chi chưa thực sự tối ưu, gây khó khăn cho công tác quản lý và kiểm soát thu chi ngân sách.

II. Phân tích thách thức trong kế toán thu chi tại ĐHQG Hòa Lạc

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách, công tác kế toán thu chi tại Trung tâm Phát triển ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc vẫn đối mặt với một số thách thức nhất định. Những tồn tại này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nội bộ mà còn tác động đến tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Một trong những vấn đề nổi cộm được luận văn của tác giả Khuất Quỳnh Thăng chỉ ra là hệ thống chứng từ kế toán thu chi, sổ kế toán và việc vận dụng tài khoản chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới. Việc chưa chủ động xây dựng các quy trình kế toán đặc thù phù hợp với hoạt động đa dạng của Trung tâm (vừa thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, vừa cung cấp dịch vụ) dẫn đến những khó khăn trong việc bóc tách, phân tích hoạt động thu chi. Hơn nữa, quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính tại trường đại học đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị, đòi hỏi bộ máy kế toán phải linh hoạt và chuyên nghiệp hơn. Việc áp dụng các chuẩn mực kế toán công Việt Nam mới cũng là một thách thức, yêu cầu cán bộ kế toán phải liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng để đảm bảo hạch toán đúng và đủ.

2.1. Hạn chế trong quy trình kiểm soát thu chi ngân sách nội bộ

Quy trình kiểm soát thu chi ngân sách nội bộ tại một số thời điểm còn tồn tại bất cập. Việc lập dự toán đôi khi chưa sát với thực tế, dẫn đến phải điều chỉnh nhiều lần trong năm. Công tác giám sát chi tiêu, đặc biệt là các khoản chi nhỏ lẻ, chưa được tự động hóa hoàn toàn, vẫn phụ thuộc nhiều vào con người, tiềm ẩn rủi ro sai sót. Luận văn chỉ ra rằng, "bên cạnh những cải cách và đổi mới thì vẫn tồn tại một số hạn chế nhƣ chứng từ, sổ kế toán, tài khoản kế toán chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu". Điều này cho thấy sự cần thiết phải xây dựng một quy chế chi tiêu nội bộ chi tiết hơn, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin để tăng cường giám sát và cảnh báo sớm các khoản chi bất thường, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

2.2. Vướng mắc trong việc hạch toán các khoản thu chi đa dạng

Đặc thù của Trung tâm là có nhiều nguồn thu khác nhau: nguồn ngân sách nhà nước cấp, nguồn thu sự nghiệp từ dịch vụ, nguồn viện trợ, tài trợ. Việc hạch toán các khoản thu này đòi hỏi phải phân loại và theo dõi trên các tài khoản riêng biệt để đảm bảo quyết toán chính xác. Tương tự, kế toán các khoản chi cũng phức tạp khi phải phân bổ chi phí chung cho nhiều hoạt động khác nhau. Sự thiếu rõ ràng trong việc bóc tách chi phí có thể dẫn đến việc xác định kết quả tài chính của từng hoạt động không chính xác, ảnh hưởng đến quyết định quản trị và việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Đây là một trong những điểm mấu chốt cần được giải quyết để hoàn thiện công tác kế toán thu chi.

III. Phương pháp hạch toán các khoản thu tại ĐHQG Hòa Lạc tối ưu

Để quản lý hiệu quả các nguồn tài chính, việc tổ chức hạch toán các khoản thu một cách khoa học là yêu cầu bắt buộc. Tại các đơn vị hành chính sự nghiệp như Trung tâm Phát triển ĐHQG Hòa Lạc, các khoản thu được phân thành nhiều loại hình khác nhau, mỗi loại có cơ chế quản lý và phương pháp hạch toán riêng. Việc áp dụng đúng hệ thống tài khoản theo Thông tư 107/2017/TT-BTC là nền tảng cơ bản. Cụ thể, các khoản thu từ ngân sách nhà nước cấp được theo dõi trên Tài khoản 511, trong khi doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được ghi nhận vào Tài khoản 531. Các khoản thu nhập khác như thanh lý tài sản hay tiền phạt được hạch toán vào Tài khoản 711. Việc hạch toán các khoản thu không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận con số mà còn phải theo dõi chi tiết theo từng nguồn hình thành, từng dự án, chương trình. Điều này giúp đơn vị dễ dàng lập báo cáo thu chi và thực hiện quyết toán với cơ quan chủ quản. Tối ưu hóa quy trình này đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống sổ chi tiết, ứng dụng phần mềm kế toán hiện đại để tự động hóa việc ghi nhận và tổng hợp dữ liệu, giảm thiểu sai sót thủ công.

3.1. Hạch toán nguồn thu từ Ngân sách Nhà nước TK 511

Nguồn thu từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) là nguồn kinh phí chủ yếu để đơn vị thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao. Kế toán sử dụng Tài khoản 511 - "Thu hoạt động do NSNN cấp" để phản ánh. Khi nhận được quyết định giao dự toán, kế toán ghi nhận vào tài khoản ngoài bảng (TK 008). Khi rút dự toán để chi tiêu, nghiệp vụ được ghi nhận đồng thời Nợ các TK chi phí (611) và Có TK 511, đồng thời ghi giảm TK 008. Việc theo dõi chi tiết theo mục lục ngân sách (chương, loại, khoản, mục) là yêu cầu bắt buộc, giúp đảm bảo chi tiêu đúng mục đích và phục vụ công tác quyết toán cuối năm. Quy trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận kế toán và kho bạc nhà nước.

3.2. Kế toán doanh thu từ hoạt động dịch vụ kinh doanh TK 531

Trong bối cảnh hướng tới tự chủ tài chính tại trường đại học, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng. Các khoản thu này được hạch toán vào Tài khoản 531 - "Doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ". Doanh thu được ghi nhận khi hoạt động cung cấp dịch vụ hoàn thành và được khách hàng chấp nhận thanh toán, không phụ thuộc vào thời điểm thực thu tiền. Kế toán phải sử dụng hóa đơn theo quy định và theo dõi chi tiết doanh thu cho từng loại hình dịch vụ (cho thuê cơ sở vật chất, tổ chức sự kiện, đào tạo ngắn hạn...). Cuối kỳ, toàn bộ doanh thu sẽ được kết chuyển sang tài khoản xác định kết quả để tính toán lợi nhuận và thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, góp phần phân tích hoạt động thu chi một cách toàn diện.

IV. Quy trình kế toán các khoản chi và kiểm soát ngân sách hiệu quả

Quản lý chi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp công lập. Quy trình kế toán thu chi hiệu quả phải đảm bảo mọi khoản chi đều đúng mục đích, đúng định mức và có đầy đủ chứng từ kế toán thu chi hợp lệ. Tại Trung tâm Phát triển ĐHQG Hòa Lạc, các khoản chi được phân thành chi thường xuyên và chi không thường xuyên. Kế toán sử dụng Tài khoản 611 - "Chi hoạt động" để hạch toán các chi phí liên quan đến nhiệm vụ do NSNN cấp, và Tài khoản 642 để tập hợp chi phí quản lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Để kiểm soát thu chi ngân sách hiệu quả, đơn vị cần xây dựng và tuân thủ nghiêm ngặt quy chế chi tiêu nội bộ. Quy chế này là căn cứ để Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi và là cơ sở để mọi cá nhân, bộ phận trong đơn vị thực hiện. Việc phân loại chi phí theo mục lục ngân sách nhà nước không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn giúp lãnh đạo phân tích hoạt động thu chi, từ đó đưa ra các quyết định điều hành phù hợp, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính.

4.1. Kế toán các khoản chi thường xuyên và không thường xuyên TK 611

Tài khoản 611 được sử dụng để tập hợp các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp, bao gồm chi thường xuyên (lương, phụ cấp, dịch vụ công cộng...) và chi không thường xuyên (thực hiện đề tài khoa học, dự án, sửa chữa lớn...). Mọi khoản chi phải dựa trên dự toán đã được duyệt. Khi phát sinh nghiệp vụ, kế toán căn cứ vào hóa đơn, chứng từ hợp lệ để ghi Nợ TK 611 và Có các tài khoản liên quan như kế toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng (TK 111, 112) hoặc phải trả người bán (TK 331). Cuối kỳ, tổng chi phí phát sinh trên TK 611 sẽ được kết chuyển sang các tài khoản nguồn kinh phí tương ứng để quyết toán. Việc hạch toán chi tiết giúp ban lãnh đạo nắm bắt được cơ cấu chi phí và thực hiện các biện pháp tiết kiệm cần thiết.

4.2. Lập báo cáo thu chi và quyết toán ngân sách nhà nước

Việc lập báo cáo thu chi và báo cáo quyết toán là khâu cuối cùng nhưng vô cùng quan trọng trong chu trình quản lý tài chính. Hệ thống báo cáo tài chính theo Thông tư 107/2017/TT-BTC cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả hoạt động của đơn vị. Báo cáo quyết toán ngân sách phản ánh tình hình chấp hành dự toán thu, chi NSNN trong năm. Dữ liệu để lập các báo cáo này được tổng hợp từ sổ cái và sổ chi tiết của các tài khoản thu (TK 511, 531...) và chi (TK 611, 642...). Tính chính xác và kịp thời của báo cáo là cơ sở để cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt quyết toán và giao dự toán cho năm tiếp theo, thể hiện trách nhiệm giải trình của đơn vị trong việc sử dụng quản lý tài chính công.

V. Top giải pháp hoàn thiện công tác kế toán thu chi ĐHQG Hòa Lạc

Dựa trên việc phân tích thực trạng, luận văn của tác giả Khuất Quỳnh Thăng đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện công tác kế toán thu chi tại Trung tâm Phát triển ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ mà còn hướng đến việc nâng cao năng lực quản trị tài chính tổng thể của đơn vị. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống kế toán minh bạch, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của cơ chế tự chủ tài chính tại trường đại học và tuân thủ các chuẩn mực kế toán công Việt Nam. Các giải pháp được đề xuất bao gồm việc hoàn thiện hệ thống chứng từ, tối ưu hóa việc vận dụng hệ thống tài khoản, cải tiến hệ thống sổ sách và nâng cao chất lượng báo cáo kế toán. Việc triển khai thành công các giải pháp này đòi hỏi sự quyết tâm của ban lãnh đạo, sự nỗ lực của đội ngũ kế toán và sự hỗ trợ từ các cơ quan chủ quản. Đây là lộ trình cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của đơn vị trong giai đoạn mới.

5.1. Hoàn thiện hệ thống chứng từ và quy trình luân chuyển

Giải pháp đầu tiên và cơ bản nhất là chuẩn hóa hệ thống chứng từ kế toán thu chi. Cần rà soát, bổ sung và thiết kế lại các mẫu biểu chứng từ nội bộ cho phù hợp với đặc thù hoạt động của Trung tâm, đảm bảo mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được phản ánh đầy đủ, rõ ràng. Song song đó, việc xây dựng một quy trình kế toán thu chi rõ ràng, quy định cụ thể trách nhiệm và thời gian xử lý của từng bộ phận trong việc lập, kiểm tra và luân chuyển chứng từ là hết sức cần thiết. Ứng dụng chữ ký số và hệ thống quản lý chứng từ điện tử sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm thiểu sai sót và tăng cường tính bảo mật, minh bạch.

5.2. Tối ưu hóa việc vận dụng hệ thống tài khoản và sổ kế toán

Để phân tích hoạt động thu chi một cách sâu sắc, đơn vị cần vận dụng linh hoạt hệ thống tài khoản kế toán. Cần mở các tài khoản chi tiết cấp 2, cấp 3 để theo dõi riêng biệt các nguồn thu và các khoản chi cho từng hoạt động, từng dự án. Ví dụ, trong TK 611, có thể mở chi tiết cho chi lương, chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyên môn... Tương tự, hệ thống sổ kế toán cũng cần được cải tiến. Ngoài các sổ tổng hợp theo quy định, cần xây dựng các sổ quản trị chi tiết, cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời cho việc ra quyết định của ban lãnh đạo, đặc biệt là trong công tác kiểm soát thu chi ngân sách.

5.3. Nâng cao chất lượng báo cáo và ứng dụng công nghệ thông tin

Chất lượng của việc lập báo cáo thu chi và báo cáo tài chính phản ánh năng lực của bộ máy kế toán. Cần tăng cường công tác phân tích, thuyết minh báo cáo tài chính, không chỉ trình bày số liệu mà còn phải chỉ ra được các xu hướng, các điểm mạnh, yếu trong tình hình tài chính của đơn vị. Để thực hiện điều này, việc đầu tư nâng cấp phần mềm kế toán là giải pháp then chốt. Một phần mềm hiện đại có khả năng tích hợp dữ liệu, tự động hóa các bút toán, và tạo ra các báo cáo quản trị đa dạng theo yêu cầu sẽ là công cụ đắc lực giúp hoàn thiện công tác kế toán thu chi, giảm tải công việc thủ công và nâng cao độ chính xác của thông tin.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ kế toán hoạt động thu chi tại trung tâm phát triển đhqg hà nội tại hòa lạc

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và các phần phụ lục, danh 8 mục bảng biểu, bài luận văn còn gồm có 3 chƣơng cụ thể: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán hoạt động thu, chi tại đơn vị sự nghiệp công lập có thu. - Chƣơng 2: Thực trạng kế toán hoạt động thu, chi tại Trung tâm Phát triển ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc. - Chƣơng 3: Hoàn thiện kế toán hoạt động thu, chi tại Trung tâm Phát triển ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc. 9 CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG THU CHI TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU 1.

Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu: 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập có thu: Theo Giáo trình Quản trị tài chính đơn vị HCSN [tài liệu số mấy trong tài liệu tk] thì: Đơn vị hành chính sự nghiệp c ng ập là những đơn vị do nhà nƣớc quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nƣớc về một lĩnh vực nào đó nhƣ: Văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, …, hoạt động chủ yếu bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nƣớc cấp. Bên cạnh đó các đơn vị này tùy từng chức năng hoạt động của mình mà có các nguồn thu khác nhƣ: Thu phí, lệ phí, thu sự nghiệp, viện trợ, tài trợ, thu từ hoạt động kinh doanh theo chức năng nhiệm vụ của mình và đƣợc nhà nƣớc cho phép. Đơn vị sự nghiệp c ng ập có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán.

Các đơn vị này cung cấp các dịch vụ công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thƣờng của các ngành kinh tế quốc dân trong các lĩnh vực nhƣ: y tế, giáo dục, khoa học công nghệ, môi trƣờng, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao…. Thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động của nền kinh tế một cách xuyên suốt, với mục đích phi lợi nhuận. Bên cạnh đó tùy vào chức năng nhiệm vụ của mỗi đơn vị. Đơn vị sự nghiệp có thu đƣợc xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở trung ƣơng hay địa phƣơng.

Có mở tài khoản tại kho bạc nhà nƣớc hay ngân hàng để phản ánh các khoản thu chi tài chính của đơn vị. Đƣợc nhà nƣớc cấp kinh phí và tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chức năng chuyên môn của đơn vị và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo quy 10 định của nhà nƣớc. Có tổ chức bộ máy kế toán, và quản lý tài chính theo quy định của pháp luật. Đặc điểm hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập có thu: Đơn vị sự nghiệp công lập có thu là đơn vị do Nhà nƣớc quyết định thành lập hoạt động nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định mang tính chất phục vụ xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh.

Biểu hiện đặc trƣng nhất của đơn vị sự nghiệp công lập có thu là đƣợc trang trải các chi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị đƣợc giao bằng nguồn kinh phí từ quỹ ngân sách nhà nƣớc hay từ quỹ công theo nguyên tắc bồi hoàn trực tiếp. Hoạt động của loại hình đơn vị này có đặc điểm nổi bật nhƣ sau: - Một là, đơn vị sự nghiệp công lập có thu là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời nhƣ các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. Đơn vị sự nghiệp công lập có thu thực hiện vai trò của Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc tổ chức và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung ứng sản phẩm, dịch vụ xã hội công cộng, hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thƣờng, thúc đẩy phát triển con ngƣời, phát triển kinh tế. - Hai là, hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập có thu luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc: Chính phủ luôn tổ chức duy trì và bảm đảm hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội thì Chính phủ thức đẩy các chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhƣ: Chƣơng trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Chƣơng trình xóa mù chữ, Chƣơng trình phòng chống HIV – AIDS, Chƣơng trình Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, Chƣơng trình Xóa đói giảm nghèo… Với những chƣơng trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nƣớc mà cụ thể ở đây là các ĐVSN mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả bởi nếu để tƣ nhân thực hiện họ sẽ vì mục tiêu lợi nhuận là chính mà không quan tâm đến các mục tiêu xã hội dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển hiệu quả, công bằng của xã hội. 11 - Ba là, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập có thu là các sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra vật chất và giá trị tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ của đơn vị sự nghiệp có thu chủ yếu là giá trị về tri thức, văn hóa, các phát minh khoa học, sức khỏe, đạo đức…, có tính phục vụ không chỉ một ngành, một lĩnh vực nhất định mà các sản phẩm, dịch vụ đó thông thƣờng có tác động đến toán bộ nền kinh tế quốc dân. - Bốn là, hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập có thu không mang tính quyền lực pháp lí, không trực tiệp phục vụ cho quản lí hành chính nhà nƣớc.

Nguồn lực tài chính phục vụ chủ yếu cho các hoạt động vẫn là kinh phí NSNN cấp nên việc quản lý và sử dụng nguồn lực bắt buộc phải tuân theo các quy định của pháp luật về quy trình lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách, các khoản thu, chi phải tuân theo các khung, định mức đã quy định và theo hệ thống Mục lục Ngân sách, việc quản lý tài chính của các đơn vị chịu sự tác động trực tiếp bởi các chính sách phát triển kinh tế - xã hội quốc gia… - Năm là, đơn vị sự nghiệp công lập có thu có, nguồn thu thƣờng xuyên từ hoạt động sự nghiệp bởi vậy nó khác với cơ quan quản lý hành chính ở chỗ mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc và đƣợc tự chủ về mặt tài chính. Nhà nƣớc đã cho phép ĐVSN thực hiện cơ chế tự chủ tài chính thông qua việc giao cho họ quyền đƣợc khai thác nguồn thu trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và đƣợc bố trí một số khoản chi một cách chủ động. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập có thu  Theo lĩnh vực hoạt động các đơn vị sự nghiệp đƣợc chia thành: Một là: Đơn vị sự nghiệp có thu công lập thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nhƣ các trƣờng mầm non, các trƣờng tiểu học, phổ thông cơ sở, trung học cơ sở, các trƣờng đại học, cao đẳng… các đơn vị này có nguồn thu chủ yếu là từ học phí, ngoài ra còn có các nguồn thu khác nhƣ hoạt động dịch vụ liên kết từ việc liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nƣớc. 12 Hai là: Đơn vị sự nghiệp có thu công lập thuộc lĩnh vực y tế gồm: các cơ sở khám chữa bệnh nhƣ các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các bộ ngành và địa phƣơng, các cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trƣờng đào tạo y dƣợc, các cơ sở điều dƣỡng… Các đơn vị này ngoài nguồn thu chủ yếu là viện phí theo quy định của nhà nƣớc còn có các hoạt động dịch vụ khác với mức thu do đơn vị quy định.

Ba là: Các đơn vị sự nghiệp có thu công lập thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin gồm các đoàn nghệ thuật nhƣ: Nhà hát chèo, ca mua nhạc, kịch, nhà hát múa rối, trung tâm chiếu phim, nhà văn hóa thông tin, thƣ viện, bảo tàng, đài phát thanh truyền hình, cơ quan báo chí …. Các đơn vị này có nguồn thu chủ yếu từ dịch vụ in tráng, bán vé, cung cấp dịch vụ, quảng cáo, xuất bản tạp chí, bản quyền phát thanh truyền hình … và các khoản thu các theo quy định của Pháp luật. Bốn là: Các đơn vị sự nghiệp công lập có thu thuộc lĩnh vực thể dục thể thao gồm: Trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, các liên đoàn thể dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao, nguồn thu chủ yếu từ dịch vụ sân bãi, quản cáo, bản quyền thể thao trong sân đấu và một số khoản thu các theo quy định của Nhà nƣớc. Năm là: Các đơn vị sự nghiệp công lập có thu thuộc lĩnh vực kinh tế gồm: Các viện tƣ vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, các trung tâm kiểm định an toàn lao động, trung tâm đăng kiểm, Các đơn vị này có nguồn thu chủ yếu là một loại phí theo quy định của nhà nƣớc và một số nguồn thu dịch vụ khác.

 Theo mức độ tự chủ về tài chính: Theo nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của chính phủ đơn vị sự nghiệp có thu đƣợc phân loại theo mức độ đảm bảo chi hoạt động thƣờng xuyên nhƣ sau: 13 Mức độ bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị sự nghiệp đƣợc tính theo công thức: (1) Mức độ đảm bảo Tổng nguồn tài chính chi thƣờng xuyên chi phí hoạt = x 100% động thƣờng Tổng số chi thƣờng xuyên xuyên Trong đó: Tổng nguồn thu sự nghiệp gồm tiền phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nƣớc đƣợc phép để lại theo quy định. Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ theo nguyên tắc đảm bảo chi phí và có tích lũy. Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ