CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về Tài sản cố định trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Tài sản cố định Trong quá trình sản xuất kinh doanh, muốn tiến hành sản xuất được đòi hỏi doanh nghiệp phải hội đủ ba điều kiện đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Tuy nhiên không phải tất cả những tư liệu tiêu dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều là TSCĐ, mà chỉ có những tài sản có đủ những tiêu chuẩn về mặt giá trị và thời gian sử dụng theo chế độ quản lý TSCĐ của Nhà nước mới là TSCĐ.
Giáo trình kế toán tài chính của Học viện Tài chính (2010): “TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong các chu kỳ sản xuất”. Như vậy, TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất hoặc những tài sản không có hình thái vật chất có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài theo quy định trong chế độ quản lý TSCĐ hiện hành thỏa mãn theo chuẩn mực kế tóan Việt Nam số 03 (VAS – 03) gồm các tiêu chuẩn: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng TS đó; - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; - Có thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm; - Có đủ tiêu chuẩn và giá trị theo quy định hiện hành 12 Bảng 1.1: Tiêu chuẩn giá trị TSCĐ từ khi VAS -03 có hiệu lực đến nay: Cơ sở văn bản Tiêu chuẩn Thời gian hiệu lực tham chiếu giá trị TSCĐ Từ ngày 1/1/2002 đến QĐ 166/1999/QĐ-BTC Từ 5.000 đồng trở lên 31/12/2003 Từ ngày 1/1/2004 QĐ 206/2003/QĐ-BTC Từ 10.000 đồng trở lên đến 31/12/2009 Từ ngày 1/1/2010 TT 203/2009/TT-BTC Từ 10.000 đồng trở lên đến 9/6/2013 Từ ngày 10/6/2013 đến nay TT 45/2013/TT-BTC Từ 30.000 đồng trở lên Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời các tiêu chuẩn trên của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập. Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình. Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình.
Tài sản cố định bao gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính. - TSCĐ hữu hình: là tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03). 13 - TSCĐ vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 04). - TSCĐ thuê tài chính: là TSCĐ mà doanh nghiệp đi thuê dài hạn và được bên cho thuê chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu, tiền thu về cho thuê đủ cho người cho thuê trang trải được chi phí của tài sản cộng với các khoản lợi nhuận từ đầu tư đó (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 06).
Mỗi loại TSCĐ trên có tính hữu ích khác nhau, yêu cầu quản lý cũng khác nhau, nên phải tổ chức ghi chép trên những tài khoản kế toán khác nhau. Đặc điểm, vai trò, vị trí TSCĐ trong quá trình sản xuất 1.1 Đặc điểm của tài sản cố định: Khi tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ có những đặc điểm sau: - TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và vẫn giữ được hình thái vật chất ban đầu cho đến khi bị hỏng phải loại bỏ. Do đặc điểm này TSCĐ cần được theo dõi, quản lý theo nguyên giá, tức là giá trị ban đầu của TSCĐ. - Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị của nó chuyển dịch từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ hay giá trị của sản phẩm mới được tạo ra của doanh nghiệp.
Do đặc điểm này trong hạch toán TSCĐ cần theo dõi giá trị hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ. - TSCĐ hữu hình chỉ thực hiện được một vòng luân chuyển khi giá trị của nó được thu hồi toàn bộ. Từ những đặc điểm trên yêu cầu doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ TSCĐ trên các mặt: + Về mặt giá trị: Phải quản lý chặt chẽ về nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại của TSCĐ. + Về mặt hiện vật: Nắm được tình hình tăng giảm TSCĐ, hiện trạng kỹ thuật của TSCĐ.
14 TSCĐ cũng được phân biệt với đầu tư dài hạn, cho dù cả hai loại này đều được duy trì quá một kỳ kế toán. Nhưng đầu tư dài hạn không phải được dùng cho hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp. Ví dụ như đất đai được duy trì để mở rộng sản xuất trong tương lai, được xếp vào loại đầu tư dài hạn. Ngược lại đất đai mà trên đó xây dựng nhà xưởng cho doanh nghiệp thì nó lại là TSCĐ.2 Vai trò, vị trí của tài sản cố định trong quá trình sản xuất: Tài sản cố định không chỉ là điều kiện cơ bản, là nền tảng của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong Doanh nghiệp mà thực chất trong Doanh nghiệp tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số tài sản, vốn Doanh nghiệp, giá trị tài sản ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, tốc độ hội nhập nhanh như hiện nay.
Tài sản cố định là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò rất quan trọng tới hoạt động sản xuất, quyết định hoạt động sản xuất, khối lượng và chất lượng sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới sự hoạt động và phát triển của Doanh nghiệp. Trong các khâu quản lý tại Doanh nghiệp thì có thể nói công tác quản lý kế toán tài sản cố định là một trong những mắt xích quan trọng nhất của Doanh nghiệp. Giá trị tài sản cố định ngày càng lớn thì yêu cầu quản lý sử dụng ngày càng chặt chẽ và khoa học, hiệu quả hơn. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong doanh nghiệp là vấn đề cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Quản lý và sử dụng tốt tài sản cố định không chỉ có tác dụng nâng cao chất lượng năng lực hoạt động, tiết kiệm vốn mà còn là một biện pháp quan trọng khắc phục những tổn thất do hao mòn tài sản cố định gây ra. Đầu tư cho TSCĐ có tình hai mặt. Doanh nghiệp đầu tư cho TSCĐ chiếm một lượng vốn lớn và thời gian thu hồi vốn lâu dài. Tuy nhiên đầu tư cho TSCĐ thường gắn với chiến lược phát triển lâu dài của đơn vị.
Do đó, những khoản đầu tư hợp lý TSCĐ sẽ góp phần nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, đồng thời thể hiện tầm nhìn của nhà quản trị. Trong tương lai, khả năng doanh nghiệp đạt tốc độ phát triển cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư TSCĐ. Việc phân bổ nguồn lực tài chính đúng đắn vào TSCĐ là nền tảng vững chải cho sự thành công 15 trong kinh doanh. Ngược lại, nếu đầu tư TSCĐ một cách kém hiệu quả, đặc biệt trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất thì sẽ khó gặt hái được thành công.
Hiện nay, với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập phát triển đặc biệt là sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật, công nghệ thì việc đầu tư vào TSCĐ phải được quan tâm thỏa đáng, đảm bảo được năng suất lao động, tránh lạc hậu về mặt kĩ thuật. Trong điều kiện kinh tế hội nhập, TSCĐ và công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp, thời đại của nhân công giá rẻ và giá bán rẻ đang dần dần bị thay thế bởi những đòi hỏi khắt khe hơn của người tiêu dùng theo xu hướng chất lượng, mẫu mã sản phẩm vượt trội. Việc sử dụng những TSCĐ lạc hậu vừa làm tăng chi phí sản xuất đầu vào đồng thời ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm đầu ra đẫn đến việc giảm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Những năm gần đây, nhà nước đã có những chính sách ban hành về việc hạn chế tình trạng nhập máy móc thiết bị lỗi thời, kém chất lượng để tránh gây tình trạng lãng phí cơ sở vật chất của cả xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng.
Một khía cạnh khác cần được nói đến đó là dưới góc độ của người sử dụng thông tin kế toán. Nếu đầu tư TSCĐ kém hiệu quả sẽ làm tăng chi phí vốn của doanh nghiệp, tăng tài sản ảo trong Bàng cân đối kế toán, tạo rủi ro cho các nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp,.khi quyết định sử dụng thông tin trên BCTC. Đặc biệt các thông tin về TSCĐ có độ trễ hơn những tài sản có thời gian thu hồi, luân chuyển nhanh. Nhiều tài sản được đánh giá mức độ giảm giá trên thị trường như chứng khoán, nợ phải thu, hàng tồn kho.
nhưng TSCĐ hiện vẫn được giữ nguyên giá trị theo chỉ tiêu giá trị còn lại. Nếu TSCĐ chỉ được phản ánh trên sổ kế toán theo mô hình giá gốc truyền thống thì thông tin giảm giá chưa được báo cáo. Bởi vậy, thông tin về giá trị thực của TSCĐ có thể bị che dấu trong suốt một thời gian dài.