CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU DỊCH VỤ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu dịch vụ 1. Một số khái niệm cơ bản Dịch vụ: Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. (Theo ISO 8402) Cung cấp dịch vụ: Là hoạt động trong lĩnh vực thương mại, là thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một kỳ hay nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch,.
Có hợp đồng cam kết giữa hai bên(tạm gọi là bên cung ứng dịch vụ). Bên này có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ cho bên kia theo yêu cầu được thực hiện trong hợp đồng cho bên kia và nhận thanh toán. Bên sử dụng dịch vụ (tạm gọi là khách hàng) có nghĩa vụ phải thanh toán đầy đủ cho bên cung cấp dịch vụ theo thỏa thuận, nghiệm thu và kiểm tra dịch vụ như trong hợp đồng. (Luật Thương mại 2005) Khái niệm về doanh thu: Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu.
(Chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực chung) Khái niệm doanh thu cung cấp dịch vụ: Doanh thu cung cấp dịch vụ là toàn bộ doanh thu của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và đã được xác định là tiêu thụ trong kỳ kế toán của doanh nghiệp (Giáo trình Kế toán tài chính, NXB Thống Kê, trang 290) Các khoản giảm trừ doanh thu Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. (chuẩn mực kế toán số 14) Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách, hoặc lạc hậu thị hiếu. (Chuẩn mực kế toán số 14) 7 Giá trị hàng bán bị trảlại: Là giá trị khối lượng hàng bánđã xácđịnh là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. (Chuẩn mực kế toán số 14) Khái niệm về giá vốn Trong quá trình sản xuất kinh doanh, muốn đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp thì phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn của doanh nghiệp.
Muốn vậy doanh nghiệp phải xác định được một cách chính xác nhất các khoản chi phí chi ra. Giá vốn hàng bán là một trong những khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Muốn quản lý chặt chẽ và xác định đúng giá vốn thì trước hết doanh nghiệp phải nắm vững được sự hình thành của giá vốn. Theo Giáo trình “Kế toán tài chính” trường Đại học Thương mại xuất bản năm 2010: “Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hóa được xác định là tiêu thụ trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.
Giá vốn hàng bán bao gồm: + Trị giá của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ. + Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. + Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra. Đặc điểm họat động kinh doanh dịch vụ Các đặc điểm của hoạt động cung cấp dịch vụ: Về chủ thể tham gia vào quan hệ cung ứng dịch vụ có hai chủ thể: bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.
Bên cung ứng dịch vụ bắt buộc là thương nhân, có đăng ký kinh doanh để cung cấp dịch vụ thương mại theo quy định của pháp luật. Bên sử dụng dịch vụ có thể là thương nhân, có thể không phải là thương nhân, có nhu cầu sử dụng dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ cho thương nhân, đại lý thương mại yêu cầu cả hai bên đều phải là thương nhân; dịch vụ ủy thác mua bán hàng hóa, môi giới thương mại chỉ yêu cầu bên nhận ủy thác, bên môi giới là thương nhân, còn bên ủy thác và bên được môi giới có thể không là thương nhân. Về đối tượng hướng tới của các bên tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ: Đối tượng cụ thể là việc thực hiện công việc theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ như việc đại diện cho thương nhân, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý thương mại,. Bên cung ứng dịch vụ bằng khả năng của mình phải thực hiện công việc mà bên sử dụng 8 dịch vụ yêu cầu, còn bên sử dụng dịch vụ được hưởng những lợi ích từ việc thực hiện dịch vụ.
Do vậy, đối tượng của quan hệ cung ứng dịch vụ khác với đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa; bởi vì quan hệ mua bán hàng hóa hướng tới đối tượng là hàng hóa hữu hình có thể nhìn thấy. Còn quan hệ cung ứng dịch vụ thương mại hướng tới đối tượng hàng hóa vô hình hay thực hiện, không thực hiện công việc nhất định. Về mục đích của các bên tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ không hoàn toàn giống nhau. Bên sử dụng dịch vụ hướng tới mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình về dịch vụ, được hưởng những lợi ích nhất định từ việc thực hiện dịch vụ của người cung ứng dịch vụ mang lại.
Đối với bên cung ứng dịch vụ, mục tiêu lớn nhất của họ là khoản tiền thù lao hay lợi nhuận phát sinh từ việc thực hiện công việc cụ thể. Về hình thức của quan hệ cung ứng dịch vụ: Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập dưới hình thức hợp đồng: Hợp đồng cung ứng dịch vụ. Tùy thuộc vào loại hình dịch vụ thương mại được cung ứng mà hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với loại hợp đồng cung ứng dịch vụ mà pháp luật quy định phải xác lập bằng văn bản thì phải tuân theo quy định đó.
Dù dưới hình thức nào, hợp đồng cung ứng dịch vụ cũng thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên về các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện một công việc cụ thể theo yêu cầu. Xuất phát từ tính đặc thù của nhiều quan hệ dịch vụ và để thỏa mãn nhu cầu của rất đông người sử dụng dịch vụ, có trường hợp người cung ứng dịch vụ sử dụng hình thức “hợp đồng theo mẫu” để ký kết hợp đồng với người sử dụng dịch vụ. Người cung ứng dịch vụ tự soạn hợp đồng có sẵn theo ý của riêng mình và cung cấp cho người sử dụng dịch vụ; nếu đồng ý, người sử dụng dịch vụ chỉ cần ký vào hợp đồng. Các phương thức cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp Phương thức cung ứng dịch vụ nội địa Cung ứng dịch vụ nội địa là phương thức cung cấp dịch vụ phổ biến nhất trong các doanh nghiệp dịch vụ hiện nay khi các dịch vụ được cung ứng và thực hiện ngay cho các khách hàng trong nước.
Đặc điểm của cung cấp dịch vụ nội địa là dịch vụ được luân chuyển ngay trong nước, thời gian luân chuyển nhanh và trình tự kế toán không quá phức tạp. Dịch vụ thường được cung cấp với giá trị không quá lớn, giá bán biến động tùy thuộc vào khối 9 lượng dịch vụ và phương thức thanh toán. Trong cung cấp dịch vụ nội địa thường gồm các phương thức sau: Cung cấp dịch vụ trực tiếp: Theo phương thức này, dịch vụ được doanh nghiệp giao bán trực tiếp cho khách hàng tại địa điểm và phương thức thanh toán do hai bên thỏa thuận. Dịch vụ được cung cấp một lần duy nhất, sau khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đại diện khách hàng sẽ ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hoặc kiểm soát dịch vụ được chuyển giao cho khách hàng.
Khi đó, dịch vụ được xác định là đã tiêu thụ. Cung cấp dịch vụ nhiều kỳ: Hình thức này thường được sử dụng với những dịch vụ có giá trị lớn, dịch vụ gồm nhiều giai đoạn mới hoàn thành như dịch vụ chuyển giao công nghệ nghiên cứu, dịch vụ bảo hiểm tử kỳ, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng hệ thống công nghệ thông tin, quản trị mạng,.Theo hình thức này, dịch vụ được cung cấp nhiều lần theo định kỳ hoặc có biến động về thời điểm cung cấp, qua nhiều kỳ kế toán mới hoàn thành và thực hiện đầy đủ giá trị. Cung cấp dịch vụ theo phương thức trả chậm, trả góp: Dịch vụ trả chậm, trả góp là một hình thức mua bán, giao dịch giữa nhà cung cấp dịch vụ và các khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ. Phương thức này thường được các doanh nghiệp sử dụng khi cung cấp các loại dịch vụ có giá trị rất lớn, có tính rủi ro cao hoặc cung cấp cho các đối tượng là khách hàng có uy tín, khách hàng quen thuộc lâu năm của doanh nghiệp.
Phương thức cung cấp dịch vụ ra nước ngoài Là phương thức cung cấp dịch vụ ra bên ngoài lãnh thổ của doanh nghiệp. Dịch vụ được coi là cung cấp ngoài lãnh thổ trong những trường hợp sau: dịch vụ xuất cho thương nhân nước ngoài theo hợp đồng đã ký kết; dịch vụ được triển lãm sau đó bán thu bằng ngoại tệ; dịch vụ cung cấp cho du khách nước ngoài, Việt kiều thu bằng ngoại tệ, dịch vụ cung cấp cho nước ngoài thông qua hiệp định thương mại, nhân đạo, cứu trợ,. Đặc điểm nổi bật của phương thức này là chịu ảnh hưởng nhiều từ điều kiện địa lý, phương tiện vận chuyển, điều kiện và phương thức thanh toán trong từng thời kỳ. Các phương thức thanh toán Phương thức thanh toán trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao từ người mua sang người cung cấp dịch vụ ngay 10 sau khi quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát dịch vụ bị chuyển giao.
Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, séc hoặc có thể bằng hàng hóa. Ở hình thức này, sự vận động của dịch vụ gắn liền với sự vận động của tiền tệ. Phương thức thanh toán chậm trả: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát về dịch vụ, do đó hình thành khoản công nợ phải thu khách hàng.