CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất 1.Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 1. Khái niệm về chi phí sản xuất Trong nền sản xuất của bất kỳ một phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất và đó là sự kết tinh của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động, và sức lao động, đồng thời quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính là quá trình tiêu hao các yếu đó. Để sản xuất ra hàng hóa thì phải tiêu hao cả lao động và đối tượng lao động.
Khi tiến hành sản xuất không phải tất cả các khoản chi phí đều liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm mà có các khoản chi phí khác có tính chất sản xuất như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Do đó chỉ những chi phí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất. Chính vì vậy hình thành nên khái niệm chi phí sản xuất theo nhiều quan điểm khác nhau: Theo chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực chung tại đoạn 31 thì “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản, hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho các cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo chuẩn mực này thì chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong báo cáo tài chính.
Do đó nó phù hợp với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp sử dụng thông tin báo cáo tài chính. Theo giáo trình kế toán tài chính – Học Viện Tài Chính, xuất bản năm 2010 “chi phí sản xuất được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Chi phí sản xuất được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống và hao phí về lao động 9 vật hóa,…trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn”. Theo quan điểm này thì chi phí sản xuất gồm hai bộ phận là hao phí về lao động sống và hao phí về lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Như vậy chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn vào các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục đích sản xuất kinh doanh bao gồm hao phí về lao động sống và lao động vật hóa. Theo giáo trình kế toán tài chính – Đại học Thương Mại thì “Chi phí sản xuất là những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm và cung ứng dịch vụ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung” Như vậy, có thể nói rằng có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chi phí sản xuất. Nhưng nhìn chung những khái niệm trên đều đề cập đến các khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề chi phí sản xuất và theo tác giả có thể khái quát như sau: - Chi phí sản xuất là sự kết tinh của lao động sống và lao động vật hóa. - Chi phí sản xuất luôn gắn liền với mục đích và đối tượng nhất định.
Phân loại chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất a. Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế Những chi phí có cùng nội dung , tính chất kinh tế được xếp vào cùng một loại không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các yếu tố sau: * Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). Yếu tố này bao gồm: 10 - Chi phí nguyên vật liệu chính: Bao gồm giá mua và chi phí mua của những loại nguyên vật liệu chính được sử dụng trực tiếp trong các quá trình sản xuất kinh doanh.
Nguyên vật liệu chính thường cấu thành nên cơ sở vật chất chính của sản phẩm và chi phí của nó thường chiếm một tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp sản xuất. - Chi phí nguyên vật liệu phụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua của những loại nguyên vật liệu dùng để kết hợp với những nguyên liệu chính làm tăng chất lượng, độ bền, tính thẩm mỹ của sản phẩm hoặc là những nguyên liệu dùng trong công việc hành chính, văn phòng, sửa chữa máy móc thiết bị. Chi phí nguyên vật liệu phụ thường phát sinh trong tất cả các hoạt động sản xuất, tiêu thụ, quản lý. - Chi phí nguyên liệu: Bao gồm giá mua và chi phí mua của nhiên liệu dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán.
- Phí phụ tùng thay thế: Bao gồm giá mua và chi phí mua của các phụ tùng thay thế dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán. Thực chất phụ tùng thay thế cũng là nguyên liệu phụ, tuy nhiên, chúng bao gồm những bộ phận, chi tiết dùng để thay thế khi tiến hành sửa chữa tài sản cố định. - Chi phí nguyên liệu khác: Bao gồm giá mua và chi phí mua của những loại nguyên vật liệu không thuộc các yếu tố kể trên như chi phí nguyên vật liệu đặc thù, chi phí về phế phẩm, phế liệu tận dụng. Sự nhận thức yếu tố chi phí nguyên vật liệu giúp cho nhà quản trị xác định được tổng giá trị nguyên liệu, vật liệu cần thiết cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Trên cơ sở đó, nhà quản trị sẽ hoạch định được tổng mức luân chuyển, tổng mức dự trữ cần thiết của nguyên vật liệu để tránh tình trạng ứ đọng vốn hoặc thiếu nguyên vật liệu gây ra cản trở cho quá trình sản xuất kinh doanh và giảm hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, đây cũng là cơ sở để dự toán từng chủng loại vật liệu cần thiết để doanh nghiệp chủ động trong công tác cung ứng vật tư. - Chi phí công cụ dụng cụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua của các công cụ dụng cụ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán như dụng cụ sửa chữa, đo lường, bao bì vận chuyển.Tổng chi phí công cụ dụng cụ là cơ sở để nhà 11 quản trị hoạch định mức luân chuyển qua kho, định mức lưu trữ, nhu cầu thu mua công cụ dụng cụ hợp lý. * Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp.
* Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán. Thông tin về chi phí khấu hao giúp nhà quản trị nhận biết được mức chuyển dịch giá trị tài sản vào chi phí sản xuất kinh doanh cũng như tốc độ hao mòn tài sản cố định. Dựa vào thông tin này, nhà quản trị có thể hoạch định tốt hơn chiến lược tái đầu tư hoặc đầu tư mở rộng để đảm bảo cơ sở vật chất - kỹ thuật phù hợp với quá trình sản xuất kinh doanh * Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí gắn liền với các dịch vụ mua từ bên ngoài cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán của doanh nghiệp như giá dịch vụ điện nước, bảo hiểm tài sản nhà cửa, phương tiện, quảng cáo.Các chi phí loại này giúp nhà quản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để thiêt lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các đơn vị dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. * Chi phí khác bằng tiền Chi phí khác bằng tiền bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinh doanh khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên mà doanh nghiệp thường phải thanh toán trực tiếp trong kỳ kế toán.
Yếu tố này phần lớn là các dòng tiền mặt chi tiêu nhỏ tại doanh nghiệp. Vì vậy, việc nắm vững yếu tố chi phí khác bằng tiền sẽ giúp các nhà quản trị hoạch định được ngân sách tiền mặt chi tiêu, hạn chế những tồn động tiền mặt, tránh bớt những tổn thất, thiệt hại trong quản lý vốn bằng tiền. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng mục đích, công dụng được xếp vào cùng khoản mục cụ thể như sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí nguyên nhiên vật liệu sử dụng trực tiếp trong từng quá trình sản xuất sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu chính, nhiên liệu, nguyên liệu phụ. - Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ tiền lương và các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN phải trả cho công nhân và nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung là các chí phát sinh trong phạm vi phân xưởng như: Tiền lương, phụ cấp phải trả cho nhân công phân xưởng, chi phí công cụ dụng cụ xuất dùng cho phân xưởng, bộ phận sản xuất các chi phí dịch vụ, lao vụ dịch vụ mua ngoài và chi phí khác thuộc phạm vi phân xưởng Cách phân loại chi phí này làm cơ sở để tập hợp chi phí cho từng hoạt động kinh doanh có liên quan, đồng thời tính toán phân bổ vào giá thành sản phẩm một cách hợp lý. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với mức độ hoạt động Theo cách phân loại này chi phí hoạt động kinh doanh được chia làm ba loại sau: - Chi phí khả biến (biến phí) là những khoản chi phí có sự thay đổi về lượng tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của mức độ hoạt động trong kỳ.