CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1. Một số vấn đề lý thuyết về hoạt động kinh doanh dịch vụ 1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ 1.Khái niệm dịch vụ và hoạt động kinh doanh dịch vụ Do tính chất phức tạp, đa dạng và vô hình của dịch vụ nên hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Chẳng hạn, Từ điển VN giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”[37].
Tuy nhiên cách giải thích này còn khái quát và chưa thực sự làm rõ được bản chất của dịch vụ. Trong cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại”[32], tác giả đã đưa ra khái niệm dịch vụ :“Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được”. Khi so sánh với cách giải thích của Từ điển bách khoa thì cách giải thích này đã làm rõ hơn nội hàm của dịch vụ – dịch vụ là kết tinh sức lao động con người trong các sản phẩm vô hình. Từ các khái niệm này, có thể hiểu dịch vụ được hiểu là những hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu các hoạt động của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật chất.
Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Ở đây, dịch vụ bao nhiều ngành trên nhiều lĩnh vực như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương mại, bảo hiểm, bưu chính viễn thông… Hoạt động kinh doanh dịch vụ là một ngành kinh tế tổng hợp, chuyên cung cấp các loại dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và thỏa mãn các nhu 9 cầu về đời sống văn hóa, tinh thần của con người, bao gồm cả dịch vụ công nghiệp (sửa chữa máy móc,trang thiết bị.) và các dịch vụ phi công nghiệp (văn hoá,văn nghệ,sức khỏe.) trong đó bao gồm cả việc đi lại. Về bản chất, hoạt động kinh doanh dịch vụ là tổng hòa mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế của hoạt động dịch vụ, hình thành trên cơ sở phát triển đầy đủ sản phẩm hàng hóa dịch vụ và quá trình trao đổi mua và bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ Hoạt động kinh doanh dịch vụ có các đặc điểm cơ bản: Đặc tính sản phẩm: sản phẩm của kinh doanh dịch vụ không có hình thái vật chất cụ thể, chúng là tập hợp các hoạt động chứ không phải là yếu tố vật chất.Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch thường diễn ra đồng thời.
Đặc tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hoá được, không tạo ra được những dịch vụ như nhau trong những thời gian khác nhau. Mặt khác, khách hàng là người tiêu dùng dịch vụ cho nên việc quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ và với mỗi người khác nhau thì việc đánh giá cùng một dịch vụ sẽ là khác nhau. Đặc tính không tách rời: Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp, quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời. Do vậy chỉ ki khách hàng có nhu cầu thì quá trình sản xuất mới được thực hiện.
Đặc tính công việc: phức tạp và tổng hợp do khách hàng thuộc các tầng lớp, lứa tuổi khác nhau có nhu cầu, sở thích không giống nhau nên đòi hỏi sự phục vụ không giống nhau. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ ảnh hưởng đến công tác kế toán tại Doanh nghiệp dịch vụ Dịch vụ là ngành kinh tế có nhiều đặc điểm riêng, khác biệt với ngành sản xuất vật chất khác. Những điểm đặc thù của ngành kinh doanh dịch vụ có 10 ảnh hưởng đến công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ nói riêng. Cụ thể: Một là: Kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ thuần túy thường không có hình thái hiện vật cụ thể mà được thể hiện bằng lợi ích cho khách hàng thông qua việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng như: nhu cầu thông tin, nhu cầu di chuyển, nhu cầu tri thức…Đặc điểm này dẫn đến quá trình sản xuất, tiêu thụ và quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ thường khó tách bạch một cách riêng biệt, mục đích cũng như quy luật phát sinh và vận động của các khoản chi phí trong quá trình thực hiện dịch vụ khó có thể phân tích một cách rõ ràng.
Hai là: Hoạt động kinh doanh dịch vụ có sự đa dạng về phương thức thực hiện. Ví dụ: Ngành viễn thông có thể thực hiện loại hình viễn thông cố định, di động, cho thuê kênh viễn thông nội địa và quốc tế. Ngành vận tải có phương thức như: vận tải đường bộ, vận tải đường thủy, vận tải hàng không… Ngành du lịch có phương thức du lịch theo tour nội địa và tour quốc tế, tour trọn gói hoặc tour từng phần… Chính sự đa dạng về phương thức thực hiện dẫn đến sự đa dạng về đối tượng quản lý cũng như sự phức tạp trong tổ chức kế toán nói chung, đặc biệt là tổ chức kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm như: xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành sản phẩm theo từng loại hình, từng phương thức, từng loại hình kinh doanh dịch vụ. Ba là: Về mặt tổ chức quản lý kinh doanh, các doanh nghiệp dịch vụ thường thực hiện hiện hoạt động quản lý kinh doanh theo quy trình thực hiện dịch vụ hoặc theo từng đơn hàng.
Đặc điểm này cũng dẫn đến sự đa dạng trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. 11 Bốn là: Các doanh nghiệp dịch vụ có nhiều phương thức phối hợp hỗ trợ nhau trong quá trình kinh doanh như liên doanh, liên kết…Các hình thức kết hợp này dẫn tới sự phức tạp trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng. Nội dung chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ trong các Doanh nghiệp dịch vụ 1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 1.Khái niệm chi phí sản xuất Cách hiểu đơn giản nhất về chi phí là: Chi phí được sử dụng để phản ánh giá trị của các nguồn lực đã hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm dịch vụ nào đó.
Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) chuẩn mực chung định nghĩa: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo định nghĩa trên chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán, là những khoản mục trên báo cáo tài chính. Theo như đó chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Định nghĩa về chi phí như trên phù hợp với góc nhìn của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
Trên góc độ KTTC: “Chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của DN để đạt được một sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống, lao động vật hóa… trên cơ sở chứng từ, tài liệu, bằng chứng chắc chắn”. 12 Theo chế độ kế toán Việt Nam (Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014) thì: “chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định”. Trong đó : + Hao phí lao động sống: biểu hiện qua tiền lương, các khoản trích theo lương của người lao động phát sinh ghi vào chi phí sản xuất.
+ Hao phí lao động vật hoá: biểu hiện qua giá trị nguyên vật liệu sử dụng, công cụ dụng cụ xuất dùng, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho sản xuất. Đây là các tư liệu lao động và đối tượng lao động được người lao động tác động và chuyển hóa thành sản phẩm. Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ, để tạo ra sản phẩm dịch vụ cần có các chi phí về khách sạn, ăn uống, tham quan…, chi phí về hướng dẫn viên du lịch….Như vậy, chi phí sản xuất dịch vụ du lịch được hiểu: Là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình ản xuất dịch vụ du lịch biểu hiện bằng thước đo tiền tệ, được tính cho một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Phân loại chi phí sản xuất Các tiêu thức chủ yếu phân loại chi phí sản xuất: - Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí - Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí - Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với số lượng sản phẩm sản xuất - Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí a.
Phân loại theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có chung tính chất, nội dung kinh tế được xếp chung vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu dùng vào mục đích gì trong sản xuất dịch vụ, bao gồm: 13 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ các loại nguyên vật liệu mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ. - Chi phí tiền lương: Bao gồm toàn bộ tiền lương, tiền công và toàn bộ các khoản chi phí có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho nhân viên phục vụ cho hoạt động sản xuất. - Các khoản trích theo lương: Bao gồm các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn mà doanh nghiệp chịu và được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ khoản trích khấu hao tài sản cố định sử dụng cho hoạt động sản xuất.