Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1. Khái niệm và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Có nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment). FDI là hình thức đầu tư dài hạn của các cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh đó. Theo Qũy tiền tệ Quốc tế (IMF), FDI được hiểu là: “Một hình thức đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu tư (doanh nghiệp, cá nhân) ở nền kinh tế này vào nền kinh tế khác mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư”. Theo Ủy ban Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD) xét dưới góc độ sở hữu cho rằng: Luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. WTO đã đưa ra nhận định như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.
Như vậy phương diện quản lý là để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong trường hợp nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “Chi nhánh công ty”. Theo Luật đầu tư 2005: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” và “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. UNTAD (1998) định nghĩa “đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được định nghĩa là một khoản đầu tư trong thời gian dài, phản ánh lợi ích lâu dài và sự kiểm soát của 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một công ty ở trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) đối với công ty con ở nền kinh tế khác”.
Theo quan điểm của John Dunning (2008): “đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phải có dự di chuyển tài sản hay sản phẩm trung gian, bao gồm vốn tài chính, chuyên gia quản lý, công nghệ, và không bao gồm bất kỳ sự thay đổi nào về sở hữu hay quyền kểm soát các quyết định về việc sử dụng các nguồn lực nằm trong tay nhà đầu tư”. Ở Việt Nam, Luật đầu tư 2020 đã đưa ra các khái niệm: Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư. Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được quy định trong Nghị định số 83/2015/NĐ-CP, theo đó, Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn, hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh, hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu khái quát đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn, mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh hoặc xác lập quyền sở hữu ở nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, trực tiếp tham gia hoạt động đầu tư đó nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Vốn FDI là dòng vốn của các cá nhân, tổ chức của nền kinh tế này đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận hoặc các lợi ích khác cho nhà đầu tư. Nguồn gốc và bản chất của FDI. Mặc dù FDI ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như hoạt động ngoại thương (xuất- nhập khẩu), hợp tác quốc tế về đầu tư và lao động hay các dịch vụ ngoại tệ khác khá lâu nhưng đã nhanh chóng khẳng định vị trí và tầm quan trọng của mình trong các hoạt động quan hệ quốc tế. Kể từ những năm 60 dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu từ các nước phát triển đổ sang các nước đang phát triển hoặc xuất hiện giữa các nước phát triển với nhau.
Sau đó bắt đầu từ những năm 1960 đến 1970 khi xuất hiện các nước mới công nghiệp hóa NICs dòng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tư lại có thêm luồng vận chuyển mới di chuyển từ các nước đang phát triển sang các nước đang phát triển. Thứ nhất, FDI chủ yếu là đầu tư của tư nhân nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Khi sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp ở thị trường trong nước bão hòa hoặc thừa vốn tương đối ở trong nước thì các nhà đầu tư trong nước sẽ mang vốn đi đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp chọn đầu tư nước ngoài nhằm mục đích hưởng tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận ở trong nước. Theo luật của nhiều nước thì FDI là đầu tư tư nhân.
Tuy nhiên quy định của một số nước trong đó có Việt Nam là đầu tư FDI ngoài là đầu tư tư nhân còn có thể có vốn góp của nhà nước. Khi nhà đầu tư của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài theo hình thức đầu tư trực tiếp hay gián tiếp, nhà đầu tư là tư nhân hay nhà nước thì mục đích ưu tiên hàng đầu vẫn là lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được về. Vì vậy đối với các nước nhận đầu tư FDI phải xây dựng cho mình chiến lược cụ thể rõ ràng định hướng thu hút đầu tư FDI phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, mục tiêu phát triển trong nước tránh tình trạng chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nước đi đầu tư FDI. Thứ hai, khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài các chủ đầu tư phải đóng góp một khối lượng vốn tối thiểu theo quy định của quốc gia đầu tư để dành quyền kiểm soát hoặc tham gia vào kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp.
Tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư sẽ tỷ lệ với quyền lợi, lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp. Và tỷ lệ này cũng quy định quyền và nghĩa vụ của các bên khi hoạt động doanh nghiệp. Luật mỗi nước sẽ có những quy định khác nhau về vấn đề này. Riêng đối với Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án khi đầu tư vào Việt Nam.
Thứ ba, FDI được thực hiện thông qua việc nhà đầu tư xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau. Thứ tư, FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý từ nước chủ đầu tư cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc đưa máy móc, thiết bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, cán bộ quản lý…vào nước nhận đầu tư để thực hiện dự án. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Hình thức đầu tư. Theo luật đầu tư của Việt Nam năm 2020, nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư như sau: Thứ nhất, thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.
Thứ hai, đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài. Thứ ba, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý tổ chức kinh tế đó. Thứ tư, mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài với nước đi đầu tư Giúp chủ đầu tư tận dụng lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư, khai thác lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm nguồn vốn cung cấp nguyên vật liệu ổn định tại thị trường nước tiếp nhận đầu tư.
Giúp chủ đầu tư có điều kiện đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh. Giúp chủ đầu bành trướng sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ và tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước. Tuy nhiên, ngoài những lợi tích mà FDI mang lại thì cũng có những hạn chế nhất định do những nước tiếp nhận đầu tư chỉ thu hút những dự án FDI giải quyết được tình hình kinh tế còn hạn chế trong nước. Do các nước thu hút đầu tư có những quy định, chính sách để phân luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển có lợi cho nước nhận đầu tư.
Vì vậy nước chủ đầu tư cần có những chính sách, chiến lược cụ thể, chi tiết và rõ ràng tránh tình trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chỉ để thỏa mãn mục đích mở rộng thị trường, đáp ứng nhu cầu thực trạng của nước tiếp nhận đầu tư mà không thu về lợi nhuận tương xứng.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước đi đầu tư 1.1 Tác động tích cực 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi chủ đầu tư đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đều mong muốn tận dụng được các lợi ích từ nước tiếp nhận đầu tư để tôí đa hóa lợi ích của mình, cụ thể như: • Khai thác đầu vào với chi phí thấp hơn ở trong nước. Do chi phí là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp. Một số chi phí liên quan đến đầu vào của doanh nghiệp như chi phí về việc thuê đất đai, chi phí về nhân công, nguyên vật liệu, điện nước,. Khi chủ đầu tư xem xét đầu tư vào nước nào đó thì không thể bỏ qua những yếu tố trên.