Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1. Định nghĩa doanh nghiệp Trên phương diện lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp vì suy cho cùng tiếp cận doanh nghiệp ở góc độ nào thì sẽ có khái niệm doanh nghiệp ở góc độ đó.Francois Peroux thì: “ Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”. Theo sách “Kinh tế doanh nghiệp” của D.A Caillat- Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 định nghĩa: “ Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong gặp những khó khăn không vượt qua được.
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Trong đó kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Muốn kinh doanh, các thương nhân (chủ doanh nghiệp) phải chọn lấy cho mình một trong số những loại hình DN mà pháp luật quy định. Theo Bùi Văn Vần và Vũ Văn Minh (2013) định nghĩa Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất , cung ứng hàng hóa cho 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu… và sức lao động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận. Như vậy, dù định nghĩa ở góc độ nào thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh. Tác giả thống nhất sử dụng định nghĩa của Bùi Văn Vần và Vũ Văn Minh (2013) trong luận văn này. Vai trò của doanh nghiệp Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp dã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực và phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Thứ nhất: Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động. Thứ hai: Doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế những năm qua. Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu. Thứ ba: Doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành.
- Các loại hình kinh tế trong doanh nghiệp phát triển đa dạng gồm nhiều thành phần, trong đó doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn, các loại hình doanh nghiệp tư nhân tuy còn nhỏ nhưng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển nhanh và rộng khắp ở các ngành và các địa phương trong cả nước, loại hình kinh tế tập thể đang được khôi phục và có bước phát triển mới. - Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn. Thứ tư: Phát triển doanh nghiệp tác động đến giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội. Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuất khẩu.
Nhiều sản phẩm trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã được các doanh nghiệp sản xuất thay thế và được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm như: Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, các mặt hàng đồ điện, điện tử, may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đình, sản phẩm phục vụ xây dựng,. Doanh nghiệp là khu vực chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nguồn thu này tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các hoạt động xã hội công (y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo,. Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. Mặc khác, khi doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Có thể nói vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hóa các vấn đề xã hội, thực tế đó đã được phản ánh qua kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Các hoạt động của doanh nghiệp Hoạt động sử dụng vốn Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì nhu cầu về vốn cho từng doanh nghiệp càng trở nên quan trọng và đáng được quan tâm hơn vì các doanh nghiệp phải đối mặt trực tiếp với sự biến động của thị trường, cùng với sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước vì thế nhu cầu của doanh nghiệp đòi hỏi phải sử dụng vốn kinh doanh sao cho hợp lý và đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất. Dựa vào thời gian huy động vốn và sử dụng vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra làm hai loại: - Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn( dưới một năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
- Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là các phương pháp nhằm mục đích để huy động nguồn vốn cho doanh nghiệp để thực hiện hoạt động đáp ứng nhu cầu về vốn. Với kế hoạch đầu tư, kinh doanh, chủ doanh nghiệp hay các thành viên sáng lập phải chuẩn bị một số vốn nhất định (vốn góp) chính là nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp cũng có thể huy động thêm vốn bằng cách đi vay. Tùy theo loại hình doanh nghiệp và từng đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hóa, được giải phóng các nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc đẩy sự thu hút vốn vào các doanh nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng khả năng thu hút vốn vào kinh doanh.
Các phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác: - Huy động vốn chủ sở hữu từ: + Vốn góp ban đầu + Lợi nhuận giữ lại + Vốn từ phát hành cổ phiếu - Huy động vốn nợ từ: + Tín dụng ngân hàng + Tín dụng thương mại + Tín dụng thuê mua + Phát hành trái phiếu 1. Quản trị tài chính doanh nghiệp 1. Định nghĩa quản trị tài chính doanh nghiệp Theo Bùi Văn Vần và Vũ Văn Minh (2013) định nghĩa: “Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra quyết định tài chính nhằm đạt được 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Do các quyết định tài chính của doanh nghiệp đều gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp còn được nhìn nhận là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp”.
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động của người quản lý ( nhà quản trị) liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.