Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác tạo động lực lao động cho người lao động trong doanh nghiệp Chương2: Thực trạng về công tác tạo động lực lao động cho người lao động tại Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Hoàn Kiếm. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực lao động cho người lao động tại Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Hoàn Kiếm. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Động lực lao động và tạo động lực lao động cho ngƣời lao động 1.1 Khái niệm động lực lao động và tạo động lực lao động Động lực lao động Nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò rất quan trọng trong việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Do đó, ngoài việc thu hút và đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, các doanh nghiệp còn rất chú trọng vào việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sẵn có của mình.
Vì lý do đó mà động lực lao động và tạo động lực lao động là những vấn đề luôn được các nhà kinh tế và doanh nghiệp rất quan tâm. Các nhà kinh tế trên thế giới và Việt Nam đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về động lực lao động. Theo Mitchell (1999): “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình [19, tr. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012):“Động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”[12, tr.
Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thuý Hương (2014): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [3, tr. Từ những định nghĩa trên có thể thấy động lực lao động là một yếu tố xuất phát từ bên trong người lao động, nó giúp kích thích, thúc đẩy người lao động làm việc nỗ lực, hiệu quả nhằm đạt đến mục đích, mục tiêu nào đó của bản thân họ. Động lực làm việc của người lao động chịu tác động của hai nhóm nhân tố: một là xuất phát từ bản thân người lao động và hai là xuất phát từ môi trường bên ngoài 9 (môi trường trong tổ chức và môi trường ngoài tổ chức).
Nhiệm vụ và mong muốn của người quản lý là làm cho động lực lao động của người lao động phải hướng đến mục đích, mục tiêu sao cho phù hợp với mục đích, mục tiêu của tổ chức. Do đó, người quản lý phải nắm rõ được tính cách, nhu cầu, các đặc điểm cá nhân của người lao động và các đặc điểm về môi trường trong và ngoài tổ chức để đưa ra các biện pháp nhằm tạo động lực lao động phù hợp và hiệu quả. Phân biệt động lực lao động và động cơ lao động Động cơ lao động được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thỏa mãn được các nhu cầu cá nhân. Động cơ lao động là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống.
Động cơ lao động có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ lao động khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc đẩy của động cơ lao động cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. Như vậy, động cơ lao động là lý do để cá nhân tham gia vào quá trình lao động, còn động lực lao động là mức độ hưng phấn của cá nhân khi tham gia làm việc.
Nói cách khác động cơ lao động trả lời cho câu hỏi: “Vì sao người lao động làm việc?” còn động lực lao động trả lời cho câu hỏi: “Người lao động làm việc như thế nào?”; động cơ giống như những linh kiện cần thiết để một cỗ máy hoạt động còn động lực là nhiên liệu duy trì hoạt động của bộ máy. Động cơ lao động và động lực lao động có mối quan hệ qua lại. Động cơ lao động có thể tạo ra một động lực lao động mạnh mẽ cho người lao động hoặc ngược lại. Động cơ lao động là cơ sở và tiền đề hình thành động lực lao động.
Trong quá trình làm việc, động lực lao động có thể xuất hiện. Nếu không có động cơ lao động thì không có động lực lao động. Đến lượt mình, động lực lao động lại tác động ngược trở lại củng cố cho động cơ lao động. 10 Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động.
Do đó tạo động lực lao động được hiểu là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động xuất hiện động lực lao động trong quá trình làm việc từ đó thúc đẩy họ hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức. Tạo động lực lao động cho người lao động là quá trình phức tạp. Xét dưới góc độ quản lý thì đó là những tác động của nhà quản lý làm nảy sinh động lực lao động trong cá nhân người lao động. Trong lịch sử kinh tế đã diễn ra hai loại tác động: Một là, cưỡng bức người lao động thông qua các biện pháp siêu kinh tế và cưỡng bức kinh tế.
Các biện pháp này diễn ra trong các chế độ tư hữu, rõ rệt nhất là thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản. Ngày nay không được áp dụng rộng rãi. Hai là, kích thích người lao động thông qua các biện pháp khuyến khích vật chất và tinh thần đối với người lao động để tạo ra động lực làm việc. Loại tác động thứ hai này ngày nay được áp dụng rộng rãi trong các tổ chức, doanh nghiệp.
Tạo động lực lao động vừa là trách nhiệm, vừa là mục tiêu của nhà quản lý. Công tác tạo động lực lao động là quá trình từ lập kế hoạch về cách thức tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp đến tổ chức thực hiện các biện pháp tạo động lực và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện của các biện pháp đó.2 Ảnh hưởng của động lực lao động đến người lao động và hiệu quả của tổ chức Động lực lao động có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và hành vi của người lao động, từ đó ảnh hưởng đến kết quả làm việc của người lao động và hiệu quả của tổ chức. Động lực lao động thúc đẩy hành vi ở hai góc độ trái ngược nhau đó là tích cực và tiêu cực. Người lao động có động lực tích cực sẽ làm việc với tâm lý tốt, lành mạnh; có hành vi tích cực trong việc hoàn thiện mình thông qua công việc, phát huy được hết năng lực của mình, làm tăng hiệu quả lao động của cá nhân và tổ chức; thêm vào đó 11 những hành động tích cực này lại có tính lan tỏa đến những người lao động khác trong tổ chức tạo cho tổ chức đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp.
Do đó, động lực lao động tích cực không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của cá nhân mà còn nâng cao hiệu quả của tổ chức, làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường của tổ chức. Ngược lại, nếu người lao động không có động lực lao động hoặc có động lực lao động tiêu cực thì họ sẽ làm việc trì trệ, máy móc, thiếu hiệu quả dẫn đến việc không mang lại nhiều lợi ích cho tổ chức, thậm chí có thể khiến tổ chức bị thiệt hại; hoặc người lao động cảm thấy chưa phát huy được hết khả năng của mình, mình không đóng góp được nhiều cho tổ chức, không phù hợp với tổ chức nên rời bỏ tổ chức… Những việc này sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả của tổ chức - điều mà không doanh nghiệp nào mong muốn. Do vậy, động lực lao động là vấn đề quan trọng, có tính quyết định trực tiếp đến năng suất, hiệu quả làm việc của người lao động và ảnh hưởng đến hiệu quả của tổ chức.3 Một số học thuyết về tạo động lực lao động Trên thế giới đã có rất nhiều học thuyết về tạo động lực lao động như: học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow, thuyết ERG của Clayton, học thuyết công bằng của J.Stacy Adams, thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg, thuyết kỳ vọng, thuyết tăng cường tích cực của B.Skinner…Tuy nhiên, luận văn chỉ đưa ra hai học thuyết mang tính khái quát và dễ vận dụng vào thực tế nhất là học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow và học thuyết công bằng của J.Stacy Adams để phân tích trong bài. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học người Mỹ - Abraham Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn.
Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao như sau. Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản của con người như thức ăn, nước uống, quần áo mặc, nhà ở và các nhu cầu khác của cơ thể. Nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định, chắc chắn, được bảo vệ khỏi các điều bất trắc hoặc nhu cầu tự bảo vệ. 12 Nhu cầu xã hội là nhu cầu được quan hệ với những người khác để thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hiệp tác.
Hay nói cách khác là nhu cầu bạn bè, giao tiếp. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng nhận cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình. Nhu cầu tự hoàn thiện là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được biến các năng lực của mình thành hiện thực, hoặc nhu cầu đạt được các thành tích mới và có ý nghĩa, nhu cầu sáng tạo. Hình 1: Tháp nhu cầu của Maslow Học thuyết Maslow cho rằng: khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng.