phần MỞ ĐẦU, Nho học là phương thức đào luyện tri thức của người đi học (kẻ sĩ) theo quy định của Nho giáo. Hệ tư tưởng có tuổi đời vào hàng sớm nhất và có sức sống bền bỉ trong lịch sử tri thức nhân loại này đã xây dựng một thiết chế giáo dục quy củ, bao gồm phương thức đào tạo, khoa cử. Ra đời ở Trung Hoa, Nho giáo và Nho học du nhập vào Việt Nam khá sớm. Sử Trung Hoa, Hậu hán thư đã ghi lại việc vào đầu công nguyên, hai viên thái thú quận Giao Chỉ và Cửu Chân là Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực “dựng học hiệu” để dạy lễ nghĩa.
Và đây được coi là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự hình thành chính thức của Nho giáo và Nho học ở Việt Nam. Sử gia Việt Nam, trong Đại Việt sử ký nhắc đến thái thú Sĩ Nhiếp là người thông hiểu kinh sách và tích cực truyền bá Nho giáo và Đạo giáo vào Việt Nam nên được phong “Nam Giao học tổ”. Là học giả hiện đại Việt Nam đầu tiên khảo cứu sâu về Nho giáo, Lệ Thần Trần Trọng Kim cho rằng, Nho học ở Việt Nam khoảng cuối đời Đông Hán, tức là ngay trong thời kỳ Bắc thuộc, đã thịnh trị, chứng cứ là đã có những người như Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng đậu đạt và được bổ quan ở Trung Hoa [29, tr. Sau ngày giành độc lập, trải qua ba triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê do vẫn còn phải bình định các vùng nên không lưu tâm đến việc học; nhưng từ nhà Lý thì việc học có nền tảng vững chắc, và "Nho học từ đó mỗi ngày một thịnh" [29, tr.
Thi cử được tổ chức theo lối "dùng văn chương mà lấy kẻ sĩ, vậy nên văn học ở nước ta từ đó về sau rất thịnh" [29, tr. Nhưng Trần Trọng Kim cũng cho rằng "Từ đời nhà Lê về sau, trải qua nhà Mạc, nhà Hậu Lê trung hưng và nhà Nguyễn, sự Nho học ở Việt Nam tuy thật là thịnh, nhưng học giả trong nước thường có cái sở đoản rất lớn, là phần nhiều chỉ học lối khoa cử, vụ lấy văn chương đề cầu sự đỗ đạt, chứ không có mấy người học đến chỗ uyên thâm của Nho giáo, để tìm thấy cái đạo lý cao xa, hoặc là đề xướng lên cái học thuyết nào thật có giá trị. Đó thật là chỗ kém của học giả nước ta" [29, tr.724-25], còn "trong đời nhà Lý và nhà Trần, thì sự học của ta theo lối huấn hỗ của Hán nho và Đường nho, rồi từ đời Lê về sau, thì theo 10 download by : skknchat@gmail.com học của Tống nho, lấy Trình Chu làm tiêu chuẩn, ta chỉ quanh quẩn ở trong cái phạm vi hai lối học ấy" [29, tr. Tổng kết về chế độ khoa cử của Nho giáo, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu nhận xét: “Từ năm 1374 đến năm 1442, thể chế khoa cử được xác định dần theo hướng thi tiến sĩ.
Thể chế đó ổn định cho đến đầu thế kỷ XX, với những thay đổi không quan trọng. Thực ra, trong lịch sử Nho học Việt Nam không phải không có những cố gắng canh tân. Tư liệu lịch sử từng nhắc đến Hồ Quý Ly, tiếc là cứ liệu cho sự canh cải của ông hầu như không còn. Đến giữa thế kỷ XIX có một nỗ lực theo hướng đó được ghi lại.
Lời tựa do chính tác giả sách Khải đồng thuyết ước là Phạm Vọng cho biết từ 1853 đã có sự thay đổi trong cách giáo dục ở Việt Nam: "Tôi lúc còn bé, được cha tôi theo thói thường: trước hết cho đọc sách Tam tự kinh, cùng các sử đời Tam hoàng, rồi đọc các sách kinh, truyện. Tập làm lối văn thi cử thời đó, mong sao cho đúng cách thức đi thi, chiếm được mũ xanh áo đẹp thì thôi. Còn đến như, trên thì thiên văn, dưới thì địa lý, giữa thì nhân sự, cùng là các đời trước sau trong sử nước ta thì chưa hề giảng đến bao giờ cả. May nhờ cha tôi dạy bảo, nhờ phúc đức tổ tiên, năm Thiệu Trị thứ nhất.
tôi được trúng thi hương. Sau được lạm làm tri huyện Nam Chân, may được chuyển huyện nhỏ dân thưa, công đường ít việc, tôi sưu tập nhiều sách, xem được ít nhiều, bèn trích lấy những điều đại lược về thiên văn, địa lý, thế thứ các đời, biên thành một tập,. đặt tên gọi là Khải đồng thuyết ước khiến cho con cháu trong nhà học tập" [17, tr. Tuy nhiên, cuốn sách học này của chỉ lưu hành trong gia tộc mà thôi.
Tóm lại, sử liệu và các công trình nghiên cứu về Nho giáo đã cho thấy Nho học có mặt ở Việt Nam rất sớm, và có một lịch sử phát triển lâu dài. Trải qua nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, Nho học Việt Nam không có những thay đổi lớn. Đó là mô hình giáo dục duy nhất đào tạo trí thức, đào tạo đội ngũ quan lại. Tính tích cực và hạn chế của Nho học Việt Nam cũng từ đây mà nảy sinh: “gây ra trong xã hội phong khí hiếu học.
Nhưng mặt khác, nó cũng làm người đi học chạy theo công danh, học để làm quan, không chủ ý mục tiêu tu dưỡng và tìm kiếm tri thức. Thi tiến sĩ đòi hỏi thí sinh trình bày đạo lý kinh điển bằng hình thức thơ, phú, biền văn,… hướng người đọc vào nhớ kinh điển và trau dồi từ chương mà ít quan tâm đến tìm tòi chân lý” [26, tr. 11 download by : skknchat@gmail. Những cải cách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Những năm cuối thế kỷ XIX biến cố lịch sử thực dân Pháp xâm chiếm, Việt Nam từng bước thành thuộc địa dưới sự cai trị của Pháp đã trở thành một cuộc thử thách không cân sức cho Nho giáo với tư cách hệ tư tưởng nền tảng của thiết chế xã hội.
Bất lực trong cuộc chiến bảo vệ “vương thổ”, cả thế hệ nhà nho đau xót, phẫn uất. Và đã có những người cất tiếng phê phán sự vô dụng của sách vở, của lối học, chế giễu sự vô dụng của nhà nho mà Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là hai tác giả tiêu biểu. Nhưng cho đến trước khi kỳ thi Nho học cuối cùng diễn ra vào năm 1915, học vấn và thi cử Nho giáo chiếm vị trí độc tôn trong xã hội Bắc Kỳ. Tình hình này đã dần thay đổi, theo những chủ trương về giáo dục của chính quyền thực dân.
Theo nghiên cứu của một chuyên gia về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc, Trần Thị Phương Hoa, thì “Paul Bert, tổng trú sứ đầu tiên của Bắc Kỳ và Trung kỳ đã quan tâm đến việc phát triển giáo dục từ trước khi bộ máy hành chính Liên bang Đông Dương chính thức được thiết lập. Năm 1886, Dumoutier đã được cử làm nhà tổ chức và thanh tra về giáo dục Pháp-An Nam. Vốn là một chuyên gia về văn hóa phương Đông, là một nhà Trung Quốc học, Dumoutier đã rút kinh nghiệm từ việc xóa bỏ các trường dạy chữ Nho ở Nam Kỳ và chủ trương tiếp tục duy trì những trường bản xứ dạy chữ Nho ở Bắc Kỳ, đồng thời tiến hành cải cách các trường Nho giáo để chuyển dần sang giáo dục Pháp-An Nam, nhằm hoàn thiện một nền giáo dục mà ông ta coi là có tầm quan trọng đặc biệt…. Tuy nhiên, quyết định này đã không được thực hiện ngay mà phải 11 năm sau mới được đưa vào thực tiễn” [21].
Có hai lý do dẫn đến sự trì hoãn này, đó là chiến tranh và vì bản thân giới cầm quyền thực dân đã nhận ra sự níu kéo của tâm lý trong nền học vấn cũ vẫn còn nặng nề, đặc biệt là tại Bắc Kỳ. Mặt khác, truyền thống hiếu học, coi trọng khoa cử của người Việt cũng được các nhà cai trị tận dụng theo cách “điều hòa”, mềm mỏng hoá” các chủ trương giáo dục. Dẫn chứng là việc Paul Doumer, sau khi tới dự lễ xướng danh kỳ thi Hương năm 1897 ở Nam Định, chứng kiến tinh thần hiếu học và lòng quyết tâm của các sĩ tử Bắc Kỳ, năm 1898 đã ra quyết định đưa chữ quốc ngữ, chữ Pháp vào kỳ thi Hương vì “Ở kỳ thi Hương Nam Định có khoảng 10 ngàn người tham dự. Nếu cứ 1 người có mặt tại 12 download by : skknchat@gmail.com cuộc thi, có ít nhất 3 người khác theo học thì tổng số người học là 40 ngàn.
Nếu ta đưa tiếng Pháp và Quốc ngữ vào trường thi thì nghiễm nhiên ta có 40 ngàn người phải học tiếng Pháp và Quốc ngữ, mà ngân sách lại không phải chịu gánh nặng. Hiệu quả đối với nền hành chính và chính trị sẽ là vô giá” [dẫn theo 21]. Ngày 27 tháng 4 năm 1904, Chính phủ Bảo hộ ra Nghị định 1331 về tổ chức lại giáo dục công ở Bắc Kỳ, gồm năm phần do Paul Beau ký. Theo Nghị định này, các trường học công gồm hai loại: trường dành cho người Âu và trường dành cho người bản xứ.
… Mục tiêu của người Pháp là xây dựng một nền giáo dục có sự hòa trộn giữa các yếu tố Pháp với các yếu tố Việt Nam, thông qua các nhà trường Pháp-Việt. Trong bối cảnh các trường Nho giáo vẫn đóng vai trò chủ đạo, nhiệm vụ đầu tiên mà thực dân Pháp đặt ra là phải cải cách các trường này và dần chuyển sang nhà trường kiểu mới. Năm 1906, Paul Beau cho thành lập Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục Bản xứ nhằm bàn bạc về việc tiến hành cải cách các trường bản xứ và đưa các trường bản xứ vào hệ thống giáo dục công lập dưới quyền của Nha Học chính. Hội đồng nhóm họp lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1906 với sự có mặt của Vua Thành Thái và Toàn quyền Paul Beau.
Ngày 16 tháng 5 năm 1906, Toàn quyền Paul Beau ra Nghị định quy định chức năng của Hội đồng, trong đó có việc bàn các biện pháp tuyển dụng và đào tạo giáo viên cho các trường bản xứ mới, nghiên cứu các tác phẩm văn học, triết học, lịch sử bằng tiếng bản xứ, hiệu đính lại để lấy làm tài liệu nhà trường. Sau một tháng bàn bạc thảo luận, Hội đồng đã soạn ra bản quy chế giáo dục. … Khác biệt quan trọng nhất của trường bản xứ cải cách là ngoài học chữ Hán phải học thêm chữ Quốc ngữ, chữ Pháp (không bắt buộc), toán và một số môn khoa học. [21] Ngày 16 tháng 3 năm 1916, Sở Học chính Bắc Kỳ đã trình một báo cáo dài 15 trang lên Toàn quyền Đông Dương về việc tổ chức giáo dục bản xứ ở Bắc Kỳ sau khi hủy bỏ các kỳ thi Nho giáo.