Luận văn thạc sĩ: Hát Xẩm và Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu ở Ninh Bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm và cuộc đời sự nghiệp của nghệ nhân Hà Thị Cầu, báu vật sống của vùng đất cố đô Ninh Bình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2018

169
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

prefix.1. Lí do chọn đề tài

prefix.2. Lịch sử vấn đề

prefix.2.1. Những nghiên cứu chung về hát Xẩm

prefix.2.2. Những nghiên cứu về hát Xẩm ở Ninh Bình

prefix.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

prefix.3.1. Đối tượng nghiên cứu

prefix.3.2. Phạm vi nghiên cứu

prefix.4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.4.1. Mục đích nghiên cứu

prefix.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.5. Phương pháp nghiên cứu

prefix.6. Những đóng góp của luận văn

prefix.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NINH BÌNH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HÁT XẨM

1.1. Khái quát về tự nhiên, lịch sử xã hội, văn hóa ở Ninh Bình

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.2. Đặc điểm lịch sử- xã hội

1.2. Một số vấn đề lí luận về hát Xẩm

1.2.1. Khái niệm, nguồn gốc hát Xẩm

1.2.1.1. Khái niệm hát Xẩm
1.2.1.2. Nguồn gốc của hát Xẩm

1.2.2. Đặc điểm của nghệ thuật hát Xẩm

1.2.2.1. Môi trường diễn xướng
1.2.2.2. Hệ thống làn điệu
1.2.2.3. Đặc điểm lời ca

1.3. Vài nét về Hát Xẩm ở Ninh Bình

1.3.1. Các “điểm sáng” về hát Xẩm

1.3.2. Hiện trạng sưu tầm lời ca hát Xẩm

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÚC HÁT XẨM Ở NINH BÌNH

2.1. Hát Xẩm ở Ninh Bình nhìn từ phương diện nội dung

2.1.1. Xẩm là lời tâm sự về tình mẫu tử, tình vợ chồng

2.1.2. Xẩm là tiếng kêu than thân trách phận

2.1.3. Xẩm là tiếng nói đả kích,châm biếm những thói hư tật xấu trong xã hội

2.2. Hát Xẩm ở Ninh Bình nhìn từ phương diện nghệ thuật

2.2.1. Nhan đề và thể thơ

2.2.2. Nhân vật trữ tình

2.2.3. Một số biện pháp tu từ

2.2.3.1. Biện pháp so sánh tu từ
2.2.3.2. Biện pháp ẩn dụ tu từ
2.2.3.3. Biện pháp điệp từ ngữ
2.2.3.4. Biện pháp khoa trương

3. CHƯƠNG 3: NGHỆ NHÂN HÁT XẨM HÀ THỊ CẦU

3.1. Cuộc đời và nghiệp diễn

3.2. Phương thức diễn xướng của nghệ nhân Hà Thị Cầu

3.3. Vị trí và những đóng góp của nghệ nhân Hà Thị Cầu với nghệ thuật hát Xẩm

3.4. Hà Thị Cầu với vấn đề bảo lưu và phát triển nghệ thuật hát Xẩm

4. CHƯƠNG 4: HÁT XẨM TRONG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA DÂN GIAN

4.1. Tổ chức các câu lạc bộ hát Xẩm ở Ninh Bình

4.2. Biểu diễn hát Xẩm ở Ninh Bình

4.3. Những lời Xẩm mới

4.4. Xẩm Ninh Bình trong cái nhìn đối sánh

4.4.1. Xẩm Ninh Bình xưa và nay

4.4.2. Xẩm Ninh Bình và Xẩm Hà thành

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận văn Hát Xẩm Ninh Bình Tổng quan di sản nghệ nhân

Luận văn thạc sĩ "Hát Xẩm và nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu ở Ninh Bình" của tác giả Phạm Thị Hà là một công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống và chuyên sâu về một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo. Công trình này không chỉ làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về Hát Xẩm mà còn đi sâu phân tích chân dung Nghệ nhân Hà Thị Cầu - người được mệnh danh là “báu vật sống” của di sản này. Luận văn khẳng định vị thế của Ninh Bình, vùng đất cố đô Hoa Lư, như là một trong những "cái nôi" quan trọng của nghệ thuật hát Xẩm cổ truyền tại Việt Nam. Thông qua việc khảo sát, phân tích tư liệu điền dã và các văn bản sưu tầm, công trình đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về sức sống, giá trị nội dung và nghệ thuật của những khúc hát Xẩm trên mảnh đất Yên Mô. Bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành, luận văn kết nối các góc độ văn hóa học, âm nhạc học và văn học để lý giải sự hình thành, phát triển và cả những thách thức mà Hát Xẩm phải đối mặt trong bối cảnh đương đại. Đây là nguồn tài liệu quý giá, không chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc giảng dạy văn học địa phương, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Nghiên cứu này đặt nền móng vững chắc cho các hoạt động khôi phục và phát triển nghệ thuật Xẩm tại Ninh Bình một cách bài bản và bền vững.

1.1. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của nghệ thuật hát Xẩm

Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian có lịch sử lâu đời, xuất hiện khoảng 700 năm trước dưới thời nhà Trần. Theo truyền thuyết được các nghệ nhân truyền tụng, tổ nghề của Hát Xẩm là thái tử Trần Quốc Đĩnh. Vì bị hãm hại mà mù hai mắt, thái tử đã sáng tạo ra cây đàn và những khúc hát để giãi bày tâm sự, từ đó khai sinh ra nghề hát Xẩm. Dù tính xác thực của truyền thuyết chưa được kiểm chứng qua chính sử, nó đã mang lại một nguồn gốc cao quý, một niềm an ủi cho thân phận của những nghệ nhân theo nghiệp cầm ca. Ban đầu, Hát Xẩm gắn liền với cuộc sống mưu sinh của những người khiếm thị. Họ đi khắp các chốn cùng quê, đến những nơi đông người như bến tàu, cổng chợ, sân đình để dùng tiếng đàn, lời ca đổi lấy miếng cơm manh áo. Đây không phải là hành vi ăn xin, mà là một nghề lao động nghệ thuật chân chính. Như nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ nhận định, “hát Xẩm là loại ca nhạc truyền đời của những người mù lòa, đói nghèo ở Việt Nam”. Trải qua nhiều thế kỷ, Hát Xẩm đã phát triển thành một bộ môn nghệ thuật chuyên nghiệp với hệ thống làn điệu, bài bản và quy tắc tổ chức chặt chẽ, đặc biệt là sự hình thành các phường, gánh hát có ông Trùm đứng đầu.

1.2. Vị thế của Ninh Bình cái nôi của hát Xẩm cổ truyền

Ninh Bình không chỉ là đất tổ của nghệ thuật Chèo mà còn được xem là quê hương, là một trong những “cái nôi” quan trọng nhất của Hát Xẩm. Vùng đất kinh đô Hoa Lư xưa với bề dày lịch sử và văn hóa đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho nghệ thuật dân gian nảy nở. Đặc biệt, huyện Yên Mô của Ninh Bình là nơi có những nghệ nhân tiêu biểu và những gánh Xẩm lừng danh. Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, Hát Xẩm tại đây phát triển cực thịnh, tập hợp thành các làng, phường hát chuyên nghiệp. Nổi tiếng nhất là ông Trùm Chánh Trương Mậu, người đứng đầu sáu gánh hát Xẩm tại Ninh Bình. Chính tại vùng đất này, nghệ thuật Xẩm đã được định hình với những nét đặc trưng riêng, từ làn điệu đến ca từ, phản ánh sâu sắc đời sống, tâm tư của người dân lao động. Sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của Xẩm ở đây đã minh chứng cho vị thế trung tâm của Ninh Bình trong lịch sử của loại hình nghệ thuật này. Đây cũng là nơi sinh ra và gắn bó trọn đời của Nghệ nhân Hà Thị Cầu, người giữ lửa cuối cùng cho Xẩm.

II. Thách thức bảo tồn Hát Xẩm Nguy cơ mai một di sản văn hóa

Nghệ thuật Hát Xẩm, dù có một lịch sử huy hoàng, đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng, đặc biệt là nguy cơ mai một và thất truyền trong đời sống hiện đại. Luận văn của Phạm Thị Hà đã chỉ ra những vấn đề cốt lõi đe dọa sự tồn vong của di sản này. Sự thay đổi của môi trường xã hội, sự phát triển của các loại hình giải trí hiện đại đã làm mất đi không gian diễn xướng tự nhiên của Xẩm. Các bến tàu, góc chợ, sân đình xưa kia không còn là sân khấu cho các nghệ nhân. Thêm vào đó, quan niệm xã hội từng có thời kỳ xem Hát Xẩm là một hình thức hành nghề lang thang, thiếu trân trọng, đã góp phần đẩy loại hình này vào quên lãng. Khó khăn lớn nhất nằm ở phương thức truyền khẩu. Nghệ thuật Xẩm chủ yếu được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác qua trí nhớ và thực hành trực tiếp, không có hệ thống giáo trình, văn bản bài bản. Điều này dẫn đến nguy cơ thất lạc các làn điệu cổ và các bài ca từ quý giá. Sự ra đi của các nghệ nhân lão thành, mà đỉnh điểm là sự qua đời của Nghệ nhân Hà Thị Cầu vào năm 2013, đã để lại một khoảng trống khổng lồ. Bà là người nắm giữ những tinh hoa cốt lõi của Xẩm, và việc tìm được người kế cận có đủ tài năng và tâm huyết là một bài toán vô cùng nan giải. Đây là những thách thức cấp bách đòi hỏi phải có những giải pháp bảo tồn kịp thời và hiệu quả.

2.1. Thực trạng sưu tầm lời ca và hệ thống hóa tư liệu Xẩm

Một trong những thách thức lớn nhất trong công cuộc bảo tồn Hát Xẩm là việc sưu tầm và hệ thống hóa tư liệu. Do đặc trưng truyền khẩu, phần lớn các bài Xẩm cổ không được ghi chép lại một cách đầy đủ. Các ca từlàn điệu tồn tại chủ yếu trong trí nhớ của các nghệ nhân, và khi họ mất đi, những di sản đó cũng có nguy cơ biến mất vĩnh viễn. Hiện nay, các công trình nghiên cứu khoa học và sưu tầm về Hát Xẩm ở Ninh Bình còn rất ít ỏi và chưa mang tính hệ thống. Các tài liệu hiện có chủ yếu do Sở Văn hóa và Phòng Văn hóa huyện Yên Mô thu thập, hoặc từ các nỗ lực cá nhân như tác giả Mai Đức Thiện. Tuy nhiên, các văn bản này thường tồn tại dưới nhiều dị bản khác nhau và chưa được phân tích sâu về giá trị văn học, nghệ thuật. Việc thiếu một bộ tư liệu chuẩn hóa gây khó khăn cho công tác nghiên cứu, truyền dạy và phục dựng. Công trình luận văn về Hát Xẩm của Phạm Thị Hà chính là một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm giải quyết vấn đề này, nhưng cần có thêm nhiều nghiên cứu quy mô hơn để xây dựng một kho tàng tư liệu toàn diện về di sản Xẩm.

2.2. Sự ra đi của nghệ nhân Hà Thị Cầu và khoảng trống để lại

Sự qua đời của Nghệ nhân Hà Thị Cầu (2013) là một tổn thất không thể bù đắp cho nghệ thuật Hát Xẩm Việt Nam. Bà không chỉ là một nghệ nhân tài hoa mà còn là một kho tàng sống, người nắm giữ gần như trọn vẹn những tinh hoa của Xẩm cổ truyền. Bà là mắt xích cuối cùng kết nối thế hệ các nghệ nhân Xẩm của thế kỷ XX với hiện tại. Trong suốt cuộc đời, dù gặp nhiều truân chuyên, bà vẫn giữ trọn ngọn lửa đam mê với nghề. Bà sở hữu một chất giọng đặc biệt và một kỹ thuật diễn xướng điêu luyện mà khó ai có thể bì kịp. Sinh thời, bà Cầu có truyền dạy cho một số học trò, nhưng như chính bà từng thừa nhận, để đạt đến trình độ của một nghệ nhân thực thụ và có được cái “chất Xẩm” là điều vô cùng khó. Khoảng trống mà bà để lại là rất lớn. Không còn một nghệ nhân nào có thể tái hiện Hát Xẩm một cách nguyên bản và đầy đủ như bà. Điều này đặt ra một bài toán cấp bách cho công tác bảo tồn: làm thế nào để lưu giữ và phát huy những giá trị mà bà để lại khi thiếu vắng đi người thực hành di sản ở đỉnh cao nghệ thuật.

III. Phân tích giá trị nghệ thuật hát Xẩm trong luận văn chuyên sâu

Luận văn "Hát Xẩm và nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu ở Ninh Bình" đã đi sâu phân tích và làm nổi bật những giá trị nghệ thuật đặc sắc của loại hình diễn xướng dân gian này. Hát Xẩm là một nghệ thuật tổng hợp, được quy định chặt chẽ bởi bốn yếu tố: tính chất văn học trong ca từ, hệ thống làn điệu (cấu trúc âm nhạc), bộ nhạc cụ đặc trưng và môi trường diễn xướng linh hoạt. Các yếu tố này hòa quyện, tạo nên một phong cách riêng biệt không thể trộn lẫn. Về âm nhạc, Xẩm sở hữu một hệ thống tám làn điệu chính, mỗi điệu mang một sắc thái tình cảm riêng, từ mộc mạc, kể lể của Xẩm Chợ đến da diết, trữ tình của Riềm Huê, hay bi thương, sầu thảm của Thập ân. Sự phong phú về giai điệu cho phép nghệ nhân thể hiện mọi cung bậc cảm xúc của con người. Về văn học, ca từ Xẩm chủ yếu sử dụng thể thơ lục bát và lục bát biến thể, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng vẫn hàm chứa giá trị nghệ thuật cao. Nội dung ca từ phản ánh mọi khía cạnh của đời sống xã hội, từ những triết lý nhân sinh, đạo lý làm người, đến việc châm biếm thói hư tật xấu. Đặc biệt, tài ứng biến, sáng tác tại chỗ của nghệ nhân là một điểm son, khiến mỗi buổi diễn đều trở nên độc nhất. Công trình nghiên cứu đã khẳng định, Hát Xẩm không chỉ là phương tiện mưu sinh mà là một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp, có giá trị cao về cả âm nhạc và văn học.

3.1. Đặc điểm hệ thống làn điệu Từ Xẩm Chợ đến Thập ân

Hệ thống làn điệu là xương sống của nghệ thuật Hát Xẩm, tạo nên sự đa dạng và chiều sâu biểu cảm. Các nhà nghiên cứu, trong đó có Trần Việt Ngữ, đã hệ thống hóa được 8 làn điệu chính. Tiêu biểu nhất là Xẩm Chợ, làn điệu có từ sớm nhất, với giai điệu giản dị, mộc mạc, mang đậm tính kể lể, phù hợp với không gian diễn xướng nơi đông người. Ngược lại, Riềm Huê (Xẩm Huê tình) lại mang tính trữ tình sâu lắng, chuyên chở những nội dung về tình yêu đôi lứa. Điệu Chênh bong (Xẩm xoan) có tiết tấu vui vẻ, hóm hỉnh, thường dùng để hát những bài trào phúng, giáo huấn nhẹ nhàng. Đặc biệt, điệu Thập ân mang tính chất sầu thảm, trang trọng, thường được dùng để kể về mười điều ân nghĩa của cha mẹ, có sức lay động lòng người mạnh mẽ và lan tỏa sang cả nghệ thuật Chèo (với điệu Oán thập điều). Ngoài ra còn các điệu khác như Ba Bậc, Phồn Huê, Hò bốn mùa, Hát Ai, mỗi điệu đều có cấu trúc và màu sắc âm nhạc riêng, góp phần tạo nên một kho tàng âm nhạc đồ sộ và độc đáo cho nghệ thuật dân gian Việt Nam.

3.2. Sức hấp dẫn từ ca từ Thơ lục bát và tính tự sự

Ca từ trong Hát Xẩm là một thành tố văn học quan trọng, góp phần tạo nên sức sống lâu bền cho loại hình nghệ thuật này. Lời ca chủ yếu được sáng tác theo thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể, một thể thơ quen thuộc, dễ đi vào lòng người của dân tộc. Ngôn ngữ trong Xẩm mộc mạc, gần gũi, phản ánh chân thực lời ăn tiếng nói của quần chúng lao động. Nội dung ca từ vô cùng phong phú, đề cập đến mọi vấn đề của đời sống, từ tình mẫu tử, nghĩa vợ chồng trong bài Xẩm “Thập ân”, tiếng kêu than thân trách phận trong “Dạt nước cánh bèo”, đến việc đả kích, châm biếm những thói hư tật xấu trong xã hội. Không chỉ dừng lại ở ca dao, hò vè, nghệ nhân Xẩm còn sử dụng thơ của các danh sĩ như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính để diễn ca, nâng tầm giá trị văn học cho các bài hát. Có thể nói, người hát Xẩm là những người kể chuyện tài ba, họ dùng lời ca để ghi lại lịch sử, phản ánh xã hội và truyền tải những bài học đạo lý sâu sắc.

3.3. Môi trường diễn xướng và các nhạc cụ đặc trưng của Xẩm

Môi trường diễn xướng của Hát Xẩm rất linh hoạt và gần gũi với công chúng. Không cần sân khấu lộng lẫy, gánh Xẩm có thể biểu diễn ở bất cứ đâu: cổng chợ, bến đò, sân đình, hay thậm chí trên tàu điện. Nơi diễn xướng chính là cuộc đời, và khán giả là quần chúng nhân dân. Đi cùng với môi trường diễn xướng đặc biệt đó là một dàn nhạc cụ gọn nhẹ nhưng hiệu quả. Nhạc cụ không thể thiếu bao gồm đàn nhị hoặc đàn bầu giữ vai trò giai điệu chính, cùng với bộ gõ gồm trống mảnh và sênh để giữ nhịp. Đàn nhị với âm thanh da diết, ai oán, đặc biệt phù hợp để thể hiện nỗi lòng của người hát. Đàn bầu lại có thế mạnh trong những điệu Xẩm chậm, trữ tình. Sênh là một loại phách đặc biệt chỉ có trong dàn nhạc Xẩm, tạo ra âm sắc trong trẻo, giữ cho tiết tấu luôn vững vàng. Sự kết hợp giữa tiếng đàn, tiếng hát và bộ gõ tạo nên một không gian âm nhạc độc đáo, có khả năng thu hút và chinh phục người nghe một cách tự nhiên nhất.

IV. Chân dung Nghệ nhân Hà Thị Cầu Báu vật sống của Hát Xẩm

Chương 3 của luận văn tập trung khắc họa một cách toàn diện và sâu sắc chân dung Nghệ nhân Hà Thị Cầu (1928-2013), người được xem là nghệ nhân Hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX. Bà không chỉ là một người biểu diễn tài năng mà còn là hiện thân sống của cả một loại hình di sản. Cuộc đời bà là một bản trường ca đầy gian truân, gắn bó mật thiết với nghiệp cầm ca từ khi còn là một cô bé 16 tuổi. Bà theo nghiệp hát rong, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, từ thời phong kiến, qua hai cuộc kháng chiến cho đến thời kỳ đổi mới. Chính những trải nghiệm sống đó đã hun đúc nên một tâm hồn nghệ sĩ đa sầu đa cảm, giúp bà thể hiện các làn điệu Xẩm một cách chân thực và xúc động đến tột cùng. Phong cách diễn xướng của bà Hà Thị Cầu là độc nhất vô nhị, với một chất giọng khàn đặc biệt, vừa có sự ai oán, khắc khoải, lại vừa có nét hóm hỉnh, lạc quan. Bà vừa đàn nhị, vừa hát, vừa tự gõ phách, tạo nên một màn trình diễn tổng thể đầy mê hoặc. Những đóng góp của bà cho nghệ thuật Hát Xẩm là vô giá. Bà đã lưu giữ được gần như nguyên vẹn các làn điệu Xẩm cổ, đồng thời sáng tác thêm nhiều lời mới, phản ánh hơi thở của thời đại. Tên tuổi của bà đã đưa Hát Xẩm Ninh Bình vượt ra khỏi phạm vi địa phương, được đông đảo công chúng trong và ngoài nước biết đến và ngưỡng mộ.

4.1. Cuộc đời và nghiệp diễn truân chuyên của bà Hà Thị Cầu

Cuộc đời của Nghệ nhân Hà Thị Cầu là một câu chuyện dài về sự long đong, lận đận nhưng luôn kiên cường bám trụ với nghề. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hát Xẩm, bà sớm phải theo gánh hát đi khắp nơi mưu sinh. Năm 16 tuổi, trong một lần ghé qua Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình, bà gặp và nên duyên với ông Chánh Trương Mậu, một “trùm Xẩm” khi đó đã 49 tuổi và là người chồng thứ 18 của ông. Từ đó, cuộc đời bà gắn bó trọn vẹn với mảnh đất Ninh Bình. Cuộc sống của bà là chuỗi ngày phiêu bạt “nay đây mai đó”, đối mặt với đói nghèo, bệnh tật và cả những định kiến của xã hội. Bà từng chia sẻ: “Cái nghiệp cầm ca có ích cho đời. Tay đàn miệng hát giúp đời mua vui”. Chính niềm tin và lòng tự trọng nghề nghiệp ấy đã giúp bà vượt qua mọi khó khăn. Những lời ca trong các bài Xẩm bà hát như “Dạt nước cánh bèo” hay “Than thân trách phận” dường như vận vào chính cuộc đời bà, khiến tiếng hát của bà càng thêm da diết, chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe.

4.2. Phong cách diễn xướng và những đóng góp cho nghệ thuật

Phong cách diễn xướng của Nghệ nhân Hà Thị Cầu mang tính độc bản và đạt đến trình độ bậc thầy. Bà sở hữu một giọng hát trời phú, khàn đục nhưng có sức truyền cảm mãnh liệt. Khi bà cất tiếng hát, người nghe có thể cảm nhận được toàn bộ nỗi niềm, từ sự ai oán, đớn đau đến tiếng cười châm biếm, lạc quan. Kỹ thuật luyến láy, nhả chữ của bà vô cùng tinh tế, thể hiện rõ cái “chất Xẩm” nguyên bản. Bà là một trong số ít nghệ nhân có thể vừa chơi đàn nhị, vừa hát, vừa giữ nhịp bằng cặp sênh một cách nhuần nhuyễn. Cây đàn nhị trong tay bà không chỉ là nhạc cụ đệm mà còn như một người bạn tri kỷ, đối đáp và tung hứng cùng lời ca. Đóng góp lớn nhất của bà là việc bảo lưu một cách sống động kho tàng Xẩm cổ. Bà là người nắm giữ nhiều làn điệu và bài bản quý hiếm mà không ai khác còn nhớ. Bà cũng là một nghệ sĩ sáng tạo khi đặt nhiều lời mới cho các làn điệu cổ, chẳng hạn bài “Theo Đảng trọn đời”, giúp Hát Xẩm gần gũi hơn với cuộc sống đương đại.

V. Hướng đi thực tiễn Nỗ lực phục hồi hát Xẩm tại Ninh Bình

Trước nguy cơ thất truyền của Hát Xẩm, tỉnh Ninh Bình đã có những hành động quyết liệt và tiên phong trong cả nước nhằm khôi phục, bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này. Nhận thức rõ giá trị của di sản, đặc biệt là vai trò trung tâm của vùng đất Yên Mô, chính quyền và ngành văn hóa tỉnh đã xây dựng những đề án cụ thể, mang tính chiến lược. Một trong những sáng kiến quan trọng là việc thành lập các câu lạc bộ hát Xẩm tại các địa phương, tiêu biểu là ở xã Yên Phong. Các câu lạc bộ này trở thành nơi sinh hoạt, thực hành và trao truyền nghệ thuật cho thế hệ trẻ, tạo ra một môi trường diễn xướng cộng đồng sôi nổi. Đỉnh cao của những nỗ lực này là việc UBND tỉnh Ninh Bình phê duyệt Đề án số 04/ĐA-UBND ngày 14/11/2011 về “Khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Xẩm”. Đề án được triển khai bài bản qua nhiều giai đoạn, từ việc mời các chuyên gia, nghệ sĩ ở trung ương về truyền dạy, sưu tầm biên soạn lại các bài bản cổ, đến việc dàn dựng các chương trình biểu diễn chuyên nghiệp do Nhà hát Chèo Ninh Bình thực hiện. Mục tiêu xa hơn của Ninh Bình là xây dựng hồ sơ khoa học để đệ trình UNESCO công nhận Hát Xẩm là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Những nỗ lực này cho thấy quyết tâm lớn trong việc giữ gìn hồn cốt văn hóa dân tộc.

5.1. Sáng kiến thành lập các câu lạc bộ hát Xẩm tại Yên Mô

Việc thành lập các câu lạc bộ hát Xẩm tại huyện Yên Mô là một giải pháp thiết thực và hiệu quả để đưa Xẩm trở lại với đời sống cộng đồng. Đây là mô hình hoạt động dựa trên sự tự nguyện và lòng yêu mến di sản của người dân địa phương. Các câu lạc bộ quy tụ những người có năng khiếu và đam mê, từ người cao tuổi đến thế hệ trẻ, cùng nhau học hỏi, thực hành và biểu diễn. Sinh thời, Nghệ nhân Hà Thị Cầu cũng đã tham gia truyền dạy và cố vấn cho các câu lạc bộ này. Hoạt động của câu lạc bộ không chỉ dừng lại ở việc học hát các làn điệu cổ mà còn khuyến khích sáng tác những lời ca mới, phản ánh cuộc sống xây dựng quê hương. Mô hình này giúp tạo ra một lớp nghệ nhân kế cận, đồng thời biến Hát Xẩm từ một di sản có nguy cơ “nằm trong viện bảo tàng” trở thành một sinh hoạt văn hóa sống động, gắn bó mật thiết với người dân, đảm bảo sức sống bền vững cho nghệ thuật Xẩm tại chính nơi nó được sinh ra.

5.2. Mục tiêu hướng tới danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể

Nỗ lực lớn nhất và mang tầm nhìn chiến lược của tỉnh Ninh Bình là xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận Hát Xẩmdi sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Mục tiêu này không chỉ nhằm vinh danh giá trị của một loại hình nghệ thuật độc đáo mà còn kêu gọi sự quan tâm, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong công tác bảo tồn. Để thực hiện mục tiêu này, tỉnh đã và đang tiến hành nhiều hoạt động quan trọng: tổ chức các hội thảo khoa học, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sưu tầm và tư liệu hóa di sản, ghi hình, thu âm các buổi biểu diễn của Nghệ nhân Hà Thị Cầu và các nghệ nhân khác. Đề án “Khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Xẩm” chính là bước đi nền tảng để chuẩn bị cho bộ hồ sơ này. Việc được UNESCO công nhận sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, nâng cao vị thế của Hát Xẩm và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản trong bối cảnh toàn cầu hóa.

VI. Tương lai Hát Xẩm Từ luận văn đến hành động bảo tồn di sản

Công trình luận văn Hát XẩmNghệ nhân Hà Thị Cầu tại Ninh Bình không chỉ là một tài liệu học thuật giá trị mà còn là một lời kêu gọi hành động mạnh mẽ để bảo vệ một di sản quý báu của dân tộc. Bằng việc tổng kết và hệ thống hóa những giá trị cốt lõi của Hát Xẩm, từ hệ thống làn điệu, ca từ đến vai trò không thể thay thế của người nghệ nhân, luận văn đã cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho các chiến lược bảo tồn. Tương lai của Hát Xẩm phụ thuộc vào việc chúng ta có thể chuyển hóa những tri thức nghiên cứu này thành các hoạt động thực tiễn hiệu quả hay không. Triển vọng phát triển của Xẩm trong văn hóa đương đại là có cơ sở. Trong một xã hội phát triển nhanh, con người ngày càng có xu hướng tìm về các giá trị văn hóa cội nguồn. Sự mộc mạc, chân thành và chiều sâu triết lý trong Xẩm có thể mang lại những giá trị tinh thần độc đáo mà âm nhạc hiện đại khó có được. Để Hát Xẩm tiếp tục sống, cần kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp: đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền dạy trong trường học và cộng đồng, sân khấu hóa Xẩm một cách sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc, và ứng dụng công nghệ số để lưu trữ và quảng bá di sản. Di sản mà Nghệ nhân Hà Thị Cầu để lại sẽ chỉ thực sự bất tử khi những làn điệu Xẩm tiếp tục được vang lên trong đời sống hôm nay.

6.1. Tổng kết giá trị cốt lõi của nghệ thuật Xẩm và nghệ nhân

Qua phân tích của luận văn, có thể khẳng định giá trị cốt lõi của Hát Xẩm nằm ở sự kết tinh của ba yếu tố: tính chân thực, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn. Chân thực vì Xẩm phản ánh trực diện và sâu sắc mọi mặt của đời sống người lao động. Chuyên nghiệp vì nó có một hệ thống lý luận bài bản về làn điệu, quy tắc diễn xướng và tổ chức phường hội. Nhân văn vì Xẩm luôn hướng về con người, đề cao những giá trị đạo đức như lòng hiếu thảo, tình nghĩa vợ chồng, tình yêu quê hương. Song hành với đó, giá trị của người nghệ nhân, tiêu biểu là bà Hà Thị Cầu, nằm ở vai trò “người giữ lửa”. Họ không chỉ là người biểu diễn mà còn là người sáng tạo, người thầy và là linh hồn của di sản. Việc nhận diện và khẳng định những giá trị cốt lõi này là tiền đề quan trọng nhất để xác định đúng hướng đi cho công tác bảo tồn, tránh những sai lầm làm biến dạng hay phai nhạt bản sắc của Xẩm.

6.2. Triển vọng phát triển Hát Xẩm trong văn hóa đương đại

Dù đối mặt nhiều thách thức, Hát Xẩm vẫn có những triển vọng phát triển tích cực trong bối cảnh mới. Sự quan tâm của nhà nước, các nhà nghiên cứu và giới truyền thông ngày càng tăng. Nhiều nghệ sĩ trẻ đã bắt đầu tìm tòi, thể nghiệm đưa chất liệu Xẩm vào các sản phẩm âm nhạc đương đại, giúp di sản tiếp cận với khán giả trẻ. Các hoạt động bảo tồn tại Ninh Bình như thành lập câu lạc bộ, tổ chức liên hoan, đưa Xẩm vào các tour du lịch văn hóa... đang mở ra những hướng đi mới. Để triển vọng này trở thành hiện thực, cần có một chiến lược dài hạn, kết hợp giữa “bảo tồn tĩnh” (sưu tầm, lưu trữ) và “bảo tồn động” (tạo không gian sống cho di sản). Cần khuyến khích sự sáng tạo trên nền tảng truyền thống, để Hát Xẩm không chỉ là một hoài niệm về quá khứ mà còn là một phần hơi thở sống động của văn hóa đương đại Việt Nam.

03/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NINH BÌNH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HÁT XẨM 1. Khái quát về tự nhiên, lịch sử xã hội, văn hóa ở Ninh Bình 1. Điều kiện tự nhiên Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam của đồng bằng sông Hồng. Phía Bắc giáp các tỉnh Hà Nam và Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Đông giáp Nam Định, phía Nam giáp biển Đông.

Tọa độ địa lý của Ninh Bình là 19º55’39” – 20º26’25” B, 105º32’27” – 106º10’15” Đ. Đây là một tỉnh giàu tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, dân cư đông đúc, nguồn lao động dồi dào. Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, hai cái nôi văn hóa – văn minh của người Việt, là nơi “yết hầu” của Bắc-Nam, là địa bàn chiến lược quan trọng của mọi thời đại, nhà nước trong lịch sử Việt Nam. Ninh Bình nằm trên con đường giao thông huyết mạch (quốc lộ 1A), tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc – Nam, quốc lộ 10.

nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với các tỉnh Duyên Hải miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam. Đây còn là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía Nam với vùng Tây Bắc giàu tiềm năng về tài nguyên. Vị trí điạ lý đó đã tạo cho Ninh Bình một diện mạo văn hóa độc đáo và một điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội. Tuy là một tỉnh có diện tích và mật độ dân cư không lớn nhưng Ninh Bình là một vùng đất có địa hình rất đa dạng: có núi, đồng bằng, vùng ven biển, mang đầy đủ sắc thái địa hình Việt Nam thu nhỏ.

download by : skknchat@gmail.com 12 Tất cả những điều đó vừa là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế vừa là bức tranh thu nhỏ trong các bài hát Xẩm, là nguồn cảm hứng bất tận cho các nghệ nhân sáng tác thơ ca. Đặc điểm lịch sử - xã hội Ninh Bình là một vùng đất đã trải qua quá trình lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương lâu dài. Khoa học đã chứng minh Ninh Bình là một vùng đất cổ, có con người cư trú từ rất sớm. Các di tích khảo cổ học Thung Lang (Tam Điệp), chợ Ghềnh (Tam Điệp), Đồng Vườn (Yên Mô).

đã chứng minh điều đó. Ninh Bình là nơi chuyển tải các ảnh hưởng văn hóa từ lưu vực sông Mã ra phía Bắc, từ lưu vực sông Hồng vào phía Nam, từ miền núi xuống miền ven biển. Chính vì vậy, chắc hẳn “bộ mặt văn hóa Ninh Bình thời tiền sử văn hóa khá phong phú, đa dạng” (Trương Đình Tưởng, Sdd), góp phần tạo dựng nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc. Bước vào thời kỳ Bắc thuộc trải qua hơn 1000 năm, Ninh Bình lúc thuộc về quân Giao Chỉ (Bắc Bộ), lúc thuộc về quận Cửu Chân (Thanh Hóa), mãi đến thời Đường mới thành một đơn vị hành chính độc lập là Trường Châu[1] Thời kỳ phong kiến độc lập, Ninh Bình là vùng đất có kinh đô đầu tiên của đất nước Đại Cồ Việt – nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Kinh đô này tồn tại được 41 năm với sự chuyển tiếp ba thời đại Đinh – Tiền Lê – Lý. Sau khi Lý Công Uẩn dời đô về Đại La (Thăng Long), năm 1010, Hoa Lư không còn giữ vai trò là trung tâm đất nước nữa, nhưng vẫn là địa bàn chiến lược quan trọng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Đến thế kỉ XV, Ninh Bình lại là nơi Trần Ngỗi – Giản Thịnh Đế dấy quân khởi nghĩa đánh đổ quân đô hộ nhà Minh, rồi là điạ bàn giao tranh ác liệt của các tập đoàn phong kiến Lê Trịnh – Mạc. vào thế kỷ XVI.

Từ thế kỉ XVIII, nhà Lê – Trịnh suy yếu, khởi nghĩa nông dân Tây Sơn nổi lên, quân Mãn Thanh với 29 download by : skknchat@gmail.com 13 vạn quân xâm lược nước ta. Mảnh đất Ninh Bình lại một lần nữa là lá chăn vững chắc cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Là nơi Ngô Thì Nhậm dựng phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn, nơi vua Quang Trung hội quân, tổ chức cho lính ăn tết sớm rồi thần tốc tiến về giải phóng Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Thế kỷ XIX, Ninh Bình có tên làThanh Hoa ngoại trấn, năm Gia Long thứ 5 (1806) đổi thành đạo Thanh Bình.

Năm 1822, đổi thành trấn Ninh Bình, cái tên Ninh Bình có từ đây. Năm 1829, đổi thành tỉnh Ninh Bình, thành lập thêm huyện Kim Sơn. Tháng 12 năm 1873, thực dân Pháp đánh chiếm Ninh Bình nhưng chúng phải rút lui do gặp phải sự chiến đấu anh dũng của nhân dân. Mười năm sau, năm 1883, thực dân Pháp chiếm được Ninh Bình, ách đô hộ của chúng mãi đến năm 1945 mới bị cuộc Cách mạng Tháng Tám của nhân dân ta lật đổ.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), các chiến dịch Lê Lợi (1950), Tây Nam Ninh Bình, Quang Trung (1951) đã một lần nữa chứng tỏ khí thế hiên ngang, anh dũng chống giặc của nhân dân Ninh Bình, góp phần cùng nhân dân cả nước đi đến thắng lợi cuối cùng, giải phóng quê hương vào năm 1954. Cuộc kháng chiên chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Ninh Bình đã được cả nước công nhận với nhiều danh hiệu cao quý dành cho các cá nhân và tập thể. Từ năm 1986 đến nay, Ninh Bình đang cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong suốt một cuộc hành trình gần hai thiên niên kỉ, người dân Ninh Bình đã sinh sống và tồn tại từ xa xưa trên mảnh đất cổ này.

Qua quá trình phát triển ấy, Ninh Bình tự hào đã từng là kinh đô nước Đại Cồ Việt của ba vương triều Đinh – Lê – Lý từ cuối thế kỷ Xđến đầu thế kỉ XVI và là mảnh đất đã từng sản sinh ra những nhân vật lịch sử anh hùng, làm rạng danh quê hương đất nước. download by : skknchat@gmail.com 14 Có thể nói, Ninh Bình là lịch sử của một vùng đất anh hùng, giàu truyền thống yêu nước. Đó là lịch sử dựng nước và giữ nước, lúc vẻ vang rực rỡ, là trung tâm của cả nước, nơi lan tỏa những giá trị văn hóa, âm thầm đóng góp sức mình làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc. Những giá trị đó kết tinh thành truyền thống, để hôm nay được phát huy trong công cuộc xây dựng quê hương cố đô xưa, ngày một giàu đẹp.

Tỉnh Ninh Bình có trên 90 vạn dân sinh sống ở 8 huyện, thành phố, thị xã với 2 dân tộc Kinh và Mường. Mỗi dân tộc, mỗi địa phương trong tỉnh có một bản sắc truyền thống riêng, song đều hội tụ một phẩm chất chung đó là cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết, dũng cảm trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, chống thiên tai, gắn bó và yêu quê hương tha thiết. Nhân dân Ninh Bình có truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, góp phần xứng đáng vào công cuộc dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người dân đất Ninh Bình không những có truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm mà còn rất cần cù, sáng tạo và giàu kinh nghiệm trong lao động sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên.

Các thế hệ người dân Ninh Bình đã khai sơn phá thạch tạo dựng quê hương, phát triển nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, bạt núi xẻ đồi, mở mang làng bản, quai đê lấn biển xây dựng vùng quê trù phú, màu mỡ với núi sông, rừng biển kỳ thú. Đặc biệt nhân dân Ninh Bình đã phát huy khả năng khéo léo của đôi bàn tay và trí tuệ của mình tạo nên nhiều nghề thủ công lâu đời, nổi tiếng như nghề chạm khắc đá, thêu ren, dệt chiếu,. Đó là những nghề truyền thống có giá trị thẩm mĩ và giá trị kinh tế cao. Mảnh đất Ninh Bình đã sản sinh ra những người con tuấn kiệt.

Đinh Tiên Hoàng cờ lau dẹp loạn, thống nhất giang sơn, mở nước, định đô, đặt nền móng đầu tiên cho kỉ nguyên phục hưng và văn minh Đại Việt. Nguyễn Minh Không download by : skknchat@gmail.com 15 được nhà Lý phong Quốc sư, nhân dân tôn là bậc Thánh. Trương Hán Siêu, nhà văn nổi tiếng thời Trần được các vua Trần gọi bằng thầy. Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm và tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động là nét nổi bật nhất và cũng là di sản tinh thần vô giá của nhân dân các dân tộc ở Ninh Bình trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Truyền thống quý báu đó được kế tục và phát huy từ đời này sang đời khác và càng được phát huy cao độ từ có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và nó đã trở thành các cao trào cách mạng của nhân dân trong tỉnh. Đây chính là nguồn cảm hứng cho các nghệ nhân lưu giữ và phát huy loại hình nghệ thuật cổ truyền của dân tộc. Đời sống văn hóa Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Chính đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình khá năng động, phát triển trên nền tảng văn minh châuthổ sông Hồng.

Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của ViệtNam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý với các dấu ấn lịchsử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông. Đây còn là vùngđất chiến lược để bảo vệ ThăngLong của triều đại TâySơn với phòngtuyến Tam Điệp, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông với hành cung Vũ Lâm,.

Thế kỷ XVI - XVII, đạo Công giáo được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Công giáo Phát Diệm, nay là giáophận Phát Diệm đặt tại KimSơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh. Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt download by : skknchat@gmail.com 16 cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển. Dấu ấn về biển tiến còn in đậm trên đất Ninh Bình. Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ