Luận văn: Giáo dục đạo đức và phát triển nhân cách sinh viên Thái Nguyên

Luận văn về giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách sinh viên Thái Nguyên. Nghiên cứu mới nhất về vấn đề đạo đức trong giáo dục đại học hiện nay.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

53
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHÂN CÁCH SINH VIÊN, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA ĐẠO ĐỨC MỚI VỚI SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. Nhân cách và những nhân tố tác động đến sự hình thành phát triển nhân cách

1.1.1. Nhân cách và tính quy luật của sự hình thành phát triển nhân cách

1.1.1.1. Nhân cách

1.2. Đạo đức, vai trò và nội dung giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên

1.2.1. Đạo đức mới, giáo dục đạo đức mới

1.2.2. Vai trò và nội dung của giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay

2. CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI VỚI SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

2.1. Đặc điểm kinh tế chính trị, văn hóa xã hội ở Thái Nguyên ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên hiện nay

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ở Thái Nguyên

2.1.3. Đặc điểm văn hóa xã hội

2.1.4. Đặc điểm con người Thái Nguyên truyền thống và sinh viên Thái Nguyên hiện nay

2.2. Thực trạng giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên hiện nay và nguyên nhân

2.3. Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên Thái Nguyên hiện nay

2.3.1. Phương hướng

2.3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên Thái Nguyên hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá tầm quan trọng giáo dục đạo đức cho sinh viên

Trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập, công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Thái Nguyên đóng vai trò nền tảng, quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trí thức tương lai. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà còn là yêu cầu cấp thiết của toàn xã hội. Luận văn của tác giả Hoàng Thị Thu Trang (2013) khẳng định, giáo dục đạo đức giúp sinh viên định hình thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, và tạo ra động lực để vươn lên nắm vững đỉnh cao tri thức. Một nền tảng đạo đức vững chắc là tiền đề để sinh viên rèn luyện bản lĩnh chính trị, phát triển năng lực chuyên môn, và có ý thức trách nhiệm công dân. Khi được trang bị những giá trị đạo đức mới, sinh viên sẽ hiểu rõ hơn về giá trị truyền thống dân tộc, biết tôn trọng lao động, và có hoài bão cống hiến. Quá trình này giúp xây dựng nên những con người phát triển toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc giáo dục nhân cách sinh viên không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là quá trình bồi dưỡng tình cảm, niềm tin và ý chí, giúp họ đứng vững trước những cám dỗ và tác động tiêu cực từ xã hội, góp phần xây dựng một xã hội văn minh và bền vững.

1.1. Vai trò của đạo đức mới trong hình thành nhân cách

Đạo đức mới, theo tư tưởng Mác-Lênin và Hồ Chí Minh, là “cái gốc” của người cách mạng, là nền tảng cho sự phát triển nhân cách toàn diện. Nó không phải là đạo đức thủ cựu mà là đạo đức vì lợi ích chung của dân tộc và nhân loại. Đối với sinh viên, việc rèn luyện phẩm chất đạo đức mới giúp hình thành thế giới quan khoa học, tạo ra niềm tin vững chắc vào con đường xã hội chủ nghĩa. Quá trình này trang bị cho sinh viên những giá trị sống cho giới trẻ như lòng yêu nước, chủ nghĩa tập thể, và tinh thần lao động sáng tạo. Theo luận văn gốc, giáo dục đạo đức mới giúp sinh viên giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, hướng đến lẽ sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đây là yếu tố then chốt để xây dựng nên một thế hệ sinh viên có lý tưởng, có bản lĩnh, sẵn sàng cống hiến cho sự phát triển của Đại học Thái Nguyên nói riêng và đất nước nói chung.

1.2. Mối quan hệ giữa giáo dục và tự giáo dục của sinh viên

Sự hình thành nhân cách là một quá trình thống nhất giữa giáo dục và tự giáo dục. Giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội giữ vai trò chủ đạo, định hướng và vạch ra phương hướng phát triển. Tuy nhiên, yếu tố quyết định trực tiếp lại nằm ở quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện của chính bản thân mỗi sinh viên. Luận văn nhấn mạnh rằng không có quá trình tự giáo dục thì mọi nỗ lực giáo dục đều không thể đạt hiệu quả. Tính tích cực, tự giác của sinh viên trong việc tiếp thu các giá trị, chuyển hóa các yêu cầu xã hội thành phẩm chất của riêng mình mới tạo nên bản sắc nhân cách độc đáo. Chính sự khác biệt trong mức độ tự rèn luyện đã tạo ra sự đa dạng trong nhân cách của các sinh viên các trường cao đẳng, đại học dù cùng chịu một môi trường giáo dục. Do đó, mục tiêu của giáo dục lối sống cho sinh viên là phải khơi dậy được ý thức tự hoàn thiện ở mỗi cá nhân.

II. Phân tích thực trạng đạo đức sinh viên Thái Nguyên hiện nay

Thực trạng đạo đức sinh viên tại Thái Nguyên hiện nay phản ánh rõ những tác động phức hợp của bối cảnh kinh tế - xã hội. Luận văn của Hoàng Thị Thu Trang (2013) chỉ ra một bức tranh đa chiều. Một mặt, đa số sinh viên năng động, nhạy bén, có ý chí vươn lên, tích cực học tập và tham gia các hoạt động xã hội. Họ giữ gìn được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ sinh viên đang bộc lộ những biểu hiện đáng lo ngại. Thực trạng đạo đức sinh viên này cho thấy sự suy giảm niềm tin, thiếu lý tưởng sống, và xu hướng thực dụng, coi trọng vật chất. Những tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường, mặt trái của hội nhập quốc tế và sự bùng nổ thông tin đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống và nhận thức của giới trẻ. Việc nhận diện đúng đắn những thách thức này là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để tìm ra các giải pháp nâng cao đạo đức một cách hiệu quả, đặc biệt trong môi trường giáo dục đặc thù của tỉnh Thái Nguyên. Đây là vấn đề cấp bách đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội, từ nhà trường đến gia đình và các tổ chức đoàn thể.

2.1. Tác động từ kinh tế thị trường và quá trình hội nhập

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Thái Nguyên. Tác động tích cực là sinh viên trở nên năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm. Tuy nhiên, mặt trái của nó là sự đề cao lợi ích cá nhân một cách cực đoan, làm nảy sinh chủ nghĩa thực dụng, lối sống hưởng thụ. Sự cạnh tranh gay gắt và áp lực việc làm khiến một bộ phận sinh viên chỉ tập trung vào kiến thức chuyên môn mà xem nhẹ việc rèn luyện phẩm chất đạo đức. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa mang theo cả những “phản văn hóa”, lối sống xa lạ, không phù hợp với truyền thống dân tộc, len lỏi vào đời sống sinh viên qua internet và các phương tiện truyền thông, gây ra sự lệch lạc trong hệ giá trị.

2.2. Biểu hiện suy thoái trong lối sống và văn hóa ứng xử

Luận văn chỉ rõ một bộ phận sinh viên có biểu hiện suy thoái đáng báo động. Cụ thể, họ "sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, sống thực dụng, tuyệt đối hóa đời sống vật chất". Tình trạng này còn thể hiện qua sự xuống cấp của văn hóa ứng xử học đường, thái độ thiếu tôn trọng với giảng viên, bạn bè. Một số sinh viên vi phạm pháp luật, mắc vào các tệ nạn xã hội, gây ra nỗi lo chung cho xã hội. Sự thiếu hụt kỹ năng sống, khả năng phân biệt đúng sai và bản lĩnh đối mặt với cám dỗ là nguyên nhân chính dẫn đến những hành vi lệch chuẩn. Đây là hồi chuông cảnh báo về hiệu quả của công tác sinh viên và sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giáo dục.

III. Bí quyết nâng cao vai trò nhà trường trong giáo dục đạo đức

Nhà trường giữ vai trò chủ đạo và trực tiếp trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Thái Nguyên. Để nâng cao hiệu quả, cần có những phương pháp tiếp cận đồng bộ và khoa học. Trước hết, mục tiêu giáo dục phải được xác định rõ ràng, không chỉ đào tạo chuyên môn mà còn phải giáo dục nhân cách sinh viên một cách toàn diện. Nội dung giảng dạy các môn lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn cần được đổi mới, gắn liền với thực tiễn đời sống để tăng tính hấp dẫn và thuyết phục. Tác giả Hoàng Thị Thu Trang đề cao vai trò của nhà trường trong việc xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, nơi sinh viên được tôn trọng và khuyến khích phát huy tư duy phản biện. Đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên chủ nhiệm và cố vấn học tập, phải thực sự là những tấm gương về đạo đức, lối sống. Họ không chỉ truyền đạt tri thức mà còn là người định hướng, chia sẻ và đồng hành cùng sinh viên trong quá trình rèn luyện. Việc tích hợp các nội dung giáo dục đạo đức vào mọi môn học và hoạt động của nhà trường sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp, tác động sâu sắc đến nhận thức và hành vi của người học.

3.1. Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy tư tưởng

Các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò cốt lõi trong việc hình thành tư tưởng chính trị và thế giới quan cho sinh viên. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy truyền thống, nặng về lý thuyết có thể gây nhàm chán. Cần đổi mới theo hướng tăng cường đối thoại, thảo luận, liên hệ thực tiễn các vấn đề thời sự của Thái Nguyên và đất nước. Việc sử dụng các phương tiện trực quan, tổ chức các buổi seminar, mời chuyên gia nói chuyện chuyên đề sẽ giúp sinh viên tiếp thu kiến thức một cách chủ động và sâu sắc. Nội dung cần tập trung làm rõ những giá trị cốt lõi của đạo đức mới, giúp sinh viên hiểu đúng và có niềm tin vào con đường đã chọn, từ đó nâng cao sức đề kháng trước những luận điệu sai trái, thù địch.

3.2. Tăng cường giáo dục đạo đức qua hoạt động ngoại khóa

Hoạt động thực tiễn là trường học lớn nhất để hình thành nhân cách. Các hoạt động ngoại khóa như các chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh, Tiếp sức mùa thi, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ môi trường là môi trường lý tưởng để sinh viên rèn luyện. Thông qua đó, sinh viên được trải nghiệm, cống hiến, học cách làm việc nhóm, chia sẻ và thấu cảm với cộng đồng. Đại học Thái Nguyên và các trường thành viên cần xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa một cách bài bản, có mục tiêu giáo dục rõ ràng, thu hút đông đảo sinh viên tham gia. Việc lồng ghép các nội dung giáo dục về lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm công dân, và tinh thần tập thể vào các hoạt động này sẽ mang lại hiệu quả bền vững hơn so với các bài giảng lý thuyết đơn thuần.

IV. Giải pháp toàn diện giáo dục nhân cách sinh viên Thái Nguyên

Để công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Thái Nguyên đạt hiệu quả cao, cần một giải pháp tổng thể, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của nhiều lực lượng xã hội. Không thể chỉ phó mặc cho nhà trường, mà cần có sự phối hợp đồng bộ giữa gia đình, các tổ chức đoàn thể và toàn xã hội. Mỗi chủ thể có một vai trò và thế mạnh riêng, khi kết hợp lại sẽ tạo ra một môi trường giáo dục thống nhất và đa chiều, tác động toàn diện đến quá trình giáo dục nhân cách sinh viên. Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi đặt những viên gạch đầu tiên cho nền tảng đạo đức của mỗi cá nhân. Các tổ chức như Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên đóng vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, định hướng và tổ chức các phong trào hành động cách mạng cho giới trẻ. Xã hội cần tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh, thượng tôn pháp luật, và lan tỏa những tấm gương người tốt, việc tốt. Sự phối hợp nhịp nhàng này sẽ giúp ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực, đồng thời phát huy những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sinh viên rèn luyện và trưởng thành.

4.1. Phát huy vai trò của gia đình và các tổ chức xã hội

Gia đình có trách nhiệm giáo dục con cái về những giá trị đạo đức truyền thống, tạo dựng nếp sống văn hóa, lành mạnh. Sự quan tâm, làm gương của cha mẹ có tác động sâu sắc đến nhân cách của sinh viên. Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội, đặc biệt là Tỉnh đoàn Thái Nguyên và Hội Sinh viên các cấp, cần đổi mới phương thức hoạt động. Các phong trào cần thiết thực, hấp dẫn, phù hợp với tâm lý lứa tuổi, tránh hình thức. Việc tổ chức các diễn đàn, cuộc thi tìm hiểu về lịch sử, văn hóa dân tộc, các buổi đối thoại giữa lãnh đạo và sinh viên sẽ góp phần nâng cao nhận thức và bồi đắp lý tưởng sống cho thế hệ trẻ. Sự chung tay này tạo nên một mạng lưới giáo dục vững chắc, hỗ trợ sinh viên một cách hiệu quả.

4.2. Xây dựng môi trường văn hóa học đường tích cực

Môi trường văn hóa học đường có ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa ứng xử học đường và quá trình giáo dục lối sống cho sinh viên. Cần xây dựng một môi trường sư phạm dân chủ, thân thiện, nơi các mối quan hệ thầy - trò, bạn bè được xây dựng trên cơ sở tôn trọng, hợp tác và chia sẻ. Các quy tắc ứng xử văn minh cần được phổ biến và thực hiện nghiêm túc. Việc tôn vinh những tấm gương sinh viên tiêu biểu trong học tập và rèn luyện, những giảng viên tâm huyết sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực. Một môi trường học đường không có tiêu cực, bạo lực, và tệ nạn xã hội sẽ là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm những nhân cách tốt đẹp, giúp sinh viên phát triển toàn diện.

11/09/2025
Luận văn giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên ở thái nguyên hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Nhân cách smh viễn, vai trò và nội dụng của đạo đức mới với sự hinh thành và phát triển nhân cách sinh viên ở Việt Nam hiển nay Chương 2. Giáo dục đạo đức mới với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên ở Thái Nguyên hiện nay - Thực trạng và giải pháp Chuong 1 NHẪN CÁCH SINH VIỄN, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA ĐẠO ĐỨC MỚI VỚI SỰ HÌNH THÀNH PHÁTT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN Ở VIỆT RAM HIỆN NAY 1. Nhân cách và những nhân tổ tác động đến sự hình thành phát triển nhân cách 1.

Nhân cách và tính quy luật của sự hình thành phát triễn nhân cách 1. Nhân cách * Khái niệm nhân cách Nhân cách là một trong những vẫn đề phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau như triết học, tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, văn hóa học. Từ những cách tiếp cận khác nhau đã hinh thành nên rất nhiều quan niệm khác nhau vẻ nhân cách. 'Lư tưởng về nhân cách đã xuất hiện từ Arixtét (84 - 322 TƠN) - nhả triết học cễ đại Ily Lap.

Ong cho ring con người là “Sinh vật chính trị” (Ioonpoluiken). Ở đây, bước đầu Arixtốt đã thấy được vai trò của xã hội của giáo dục dào tạo tác động dến sự phát triển của con người như là một nhân cách. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIV, đầu thế ký XV thuật ngữ "nhân cách" với ý nghĩa khoa học xuất hiện lần đầu tiên trong tâm lý học phương tây. lai nha tam lý học người dức Dĩlhcy và Sprangcr dưa ra khái niệm nhân cách.

'Theo hai ông: Nhân cách là cái mặt nạ có tỉnh chất xã hội của "cái tôi" bên trong. khi nào cái mặt nạ đỏ trùng với cái tôi thì nhân cách phát triển chín muỗi. Cho đến nay, khái niệm nhân cách được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau dơ sự khác nhau về cách tiếp cận về quan diém vả khuynh hưởng nghiên cứu. Trong tử diễn tiếng Việt, từ nhân cách được hiểu là phẩm chất cia con người.

lIrong “Đại từ điễn tiếng liệt" (Nguyễn Như Y - Chủ biên), nhân cách được hiểu như là "tư cách và phẩm chất, đạo đước con người". Trong từ điển tâm li (Nguyễn Khắc Viên - Chủ biên), nhân cách theo các tác giả là: Tổng hòa tật cá những gì hợp thành một con người. một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét: Đặc điểm thể chất, tải năng, phong cách, ý chí đạo đức, vai trò xã hội và là một cá nhân só ý thức về bán thân, đã tự khẳng định được, giữ đượu phân nào tỉnh nhất quán trong hành vĩ Trong định nghĩa này, nhân cách như là cầu trúc tổng hòa nhiều yếu tố thể chất, dạo đức, tài năng, chỉ hướng. Mặc dù dây là định nghĩa tương dối toàn điện về nhân cách, nhưng vẫn mang tỉnh chất khái niệm về các đặc điểm tâm lí của cá nhân.

Có quan điểm cho bân chất nhân cách là thuộc tính sinh vật: Bản chất nhân cách là nhân tính con người (trường phải nhân văn mà đại diện là CRopers, R.AIlpart, Ch Buhlerova, J.); Nhân cách được hiểu như là toàn bộ mỗi quan hệ xã hội của od nhdn (Lucien Seve, Zeigarnite, Ogorodnikov). Có quan điễm cho nhân cách được liễu nhục đồng nghĩa với khái miệm con người; Nhân cách được liễu nhac là cả nhân con người và với tự cách là chủ th của mỗi quan hệ và là hoạt động có ý thức, Nhân cách dược hiểu như cấu trúc hệ thông tâm lí của cá nhân, Nhìn chung có nhiều quan niệm và định nghĩa về nhân cách. Các định nghĩa có những giá trị nhất định về mặt khoa học. Tuy nhiên, mỗi định nghĩa chỉ phản ánh được một khía cạnh nảo đỏ của nhân cách.

Có hai khuynh hướng cơ bản: Một là, coi nhân cách như là đặc trưng, chức năng, vai trỏ, vị trí của. con người trong xã hội. THai là, với nhân cách là đặc trưng bân chất của con người. Chúng tôi thẳng nhất với khuynh hướng thứ hai coi nhân cách là đặu trưng bản chất của con người hi bàn về vẫn đề con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt chủ ý đến bản chất xã hội của con người.

Theo Miáo "Trong tính hiện thực của nó, bẵn chất con người là tổng hỏa những, mối quan hệ xã hồi". Con người là một thực thé mang quan hệ xã hội, đồng thời là chủ thế của những quan hệ xã hội đó. Con người với tư cách là sắn phẩm cua tu nhiên, là sự phát triển tiếp tụo của giới Lự nhiên: Miặt khác, con người là một thực thể xã hội dược tách ra như một lực lượng dỗi lập với tự nhiên. Từ đó triết học Mác xem nhân cách là những phẩm chất những trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong của Lừng cả nhân.

Đó là thể giới của cái "tôi" do tác đông tổng hợp của các yếu tố cư thể và xã hội hết sức riêng biệt tao nên để cả nhân đó có thé tan tại và hoàn thành trách nhiệm của mình đấi với bản thân và xã hội. (1) Học viện CTQGHCM - Khoa triết học (1997) giáo trình TII Mác - Lênin cao cấp tập 3, chính trị quốc gia. Như vậy, theo đánh giá của VILêmin, triết học Mác đã khắc phục những thiểu sót lớn nhất của lịch sử triết học. Chủ nghĩa duy tâm "không thấy được" điểm xuất phát từ hiện thục khách quan, chủ nghĩa duy vật siêu hình "không thấy được" vai trò tích cực của chủ thể con người.

Từ đó, Triết học Mác-Lênin xem nhân cách là những phẩm chất, những trạng thải, tính chất, xu hướng bên trong của từng cá nhân. Dó là thể giới của cúi "lôi" do tác động tông hợp của các yêu tổ cơ thể và xã hội hết sức riềng biệt tạo nên dễ cá nhân độ có thể tần tại và hoàn thành trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hội. Với dịnh nghĩa trên, khi nói dến nhân cách, 7rước hết, là nói tới nhân cách của con người hiện thực, gắn liền với bản chất của nó, là sắn phẩm của những hoản cảnh xã hội, hoàn cảnh lịch sử cụthể. Thứ hai, nhần cách là nhân cách của từng cá nhân riếng biệt, cụ thể có mối quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên, xã hội xung quanh.

Mỗi cá nhân mang nhân cách nảy vừa có khả năng Lự đánh giá những hành vị của bản thân xnÌình, vừa có khả năng đánh giá hảnh vì của cả nhân mang nhân cách khác. Quá trình tự đánh giả và được đánh giá đó là quá trình cá nhân thực hiện những hành vi cho minh và cho người khác theo yêu cầu chung của xã hội Nói cách khác, nhân cách lả những phẩm chất bên trong của mỗi cá nhân trước những đòi hỏi của xã hội và của bản thân cá nhân để cá nhân đó làm tròn trách nhiệm của mình với bản thân và với xã hội. * Câu trúc nhân cách Cấu trúc của bất kỳ sự vật nào cũng dặc trưng bởi cách tổ chức, sự sắp xếp theo một kiểu nhất định Co nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc của nhân cách: - Quan niệm coi nhân cách gồm ba lĩnh vực cơ bản là: nhận thức, rung cảm và ý chỉ Quan niệm soi nhân cách bao gồm 4 kiểu sấu trúc là: xu hướng nhân cách, kinh nghiềm, các đặc điểm của quá trình tâm lÿ, các thuộc tinh sinh hoc chủ yếu. - Quan niêm về bến thuộc tính phức tạp của nhân cách lá xu hướng, tính cách, năng lực và khí chất.

- Một quan niệm khác tương đối phổ biến và dược nhiều người thừa nhân, cho rằng câu trúc nhân cách bao gồm: xu hướng nhân cách, những kha năng của nhân cách, hệ thống điều khiển của nhân cách. Ó đây, chứng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu quan niệm vẻ cầu trúc của nhân cách mà quá trình hình thành và phát triển của các yếu tô cấu thành chịu nhiều sự tá động từ giáo dục - đảo lạo. Đó là quan niệm cho rằng, cấu trúc nhân cách gồm hai mặt thẳng nhất với nhau là phẩm chất và năng lực. Uâu trúc này theo HŠ Chi Minh chính là sự thống nhất giữa Đức và Tài trong mỗi nhân cách.

Trong cấu trúc nảy, Đức dược cơi là thành phần đặc biệt của nhần cách, “Tài là các năng lực thích ứng với xã hội của con người, là hiệu suất, hiệu quà trong mỗi lĩnh vực hoạt động nào đó của họ. có thé khái quát cấu trúc Dức - Tai nhu sau: Một là, mặt Đức được cơi là "gốc", là cơ sở nền tang cho sự hình thành và phát triển nhân cách được thể hiện ở những phẩm chất chủ yếu sau: - Phẩm chất xã hội ban pỗm: thế giới quan, lập trường, thải dộ chính trị - xã hội, thái đô lao đông. Su phát triển cao của những phẩm chất này làm cho. cá nhân luôn có những nhận thức và hành động đúng đắn, hợp lý trong những hoàn cánh, điều kiện thực tiễn khác nhau.

Thuộc tính Ling hợp các yếi 16, cic mặt của phẩm chất xã hội trong nhân cách lã thể piới quan - Phẩm chất đạo đức cá nhân: trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình, các cá nhân thực hiện đạo đức xã hội như là hệ thông kinh nghiệm xã hội, những lý tưởng, chuẩn mực, tư tưởng đánh giá đạo đức đêu được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân, hình thành phẩm chất dạo đức cá nhân. Như vậy, dạo dức cả nhân là dạo đức cúa tửng cá nhân riêng lẻ của công đồng, phản ánh và khẳng định tồn tại xã hội của cá nhân Ấy như là một thể hiện riêng rẽ của tôn tại xã hội về lợi ích và hoạt động của các cá nhân - Phẩm chất ý chí, tính li luật, tỉnh phê phản, cưng cách ứng xử, tác phong. là những phẩm chất quan trọng của một cơn người mang nhân cách - Sw phát triển cao của ý thức thâm mỹ là một phẩm chất quan trong trong nhân cách. Với một ý thức thấm mỹ cao, cá nhân có một cuộc sống tỉnh thân thanh cao, vui vẻ, khoáng đạt, khơi đậy Liêm năng sáng tạo, ý thức luôn vươn tới và chiếm lĩnh cái đẹp trong mỗi con người.

Hai la, mat Tai - 14 nang lực hoàn thành các hoạt động được giao với chất lượng và hiệu quả cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ