Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở 1. Hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là khái niệm cơ bản của chính trị học. Nó liên quan chặt chẽ với tổ chức và thực thi quyền lực chính trị.
Trên cả bình diện phát triển lý luận và thực tiễn chính trị thì việc nghiên cứu hệ thống chính trị đều có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của các xã hội. Cũng như chính trị nói chung, hệ thống chính trị là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn trong đó có những ngành có truyền thống nghiên cứu về hệ thống chính trị từ rất sớm như Luật học, Triết học, Sử học. Chính trị học hiện đại với ưu thế về sự kết hợp hữu cơ giữa tính chuyên ngành sâu và tính liên ngành, là khuynh hướng phát triển tự nhiên về tri thức luận và phương pháp luận của chính trị học, có vai trò và đóng góp lớn cho sự phát triển tri thức về hệ thống chính trị. Trong ngôn ngữ chính trị hiện nay thuật ngữ “hệ thống chính trị” (political System) rất phổ biến, tuy nhiên về lịch sử phát triển lý luận chính trị học, thuật ngữ này là sản phẩm của chính trị học phương Tây từ nửa đầu thế kỷ XX.
Nó là thuật ngữ hiện đại của chính trị học. Ở Việt Nam khái niệm hệ thống chính trị bắt đầu được sử dụng chính thức từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Cho đến nay, thuật ngữ này đã trở nên thông dụng trong hệ thống thuật ngữ chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, vì là thuật ngữ mới, nên chúng ta thường gặp những định nghĩa, những quan niệm khác nhau về hệ thống chính trị.
Khảo cứu nhiều định nghĩa về hệ thống chính trị, có thể phân loại căn cứ vào những tiếp cận cơ bản sau: Cách tiếp cận hẹp gồm những định nghĩa xem hệ thống chính trị về phương diện cơ cấu được giới hạn gồm những yếu tố - hệ thống các thiết chế, tổ chức Nhà nước, hệ thống đảng chính trị và hệ thống các tổ chức và phong trào chính trị xã hội. Từ cách tiếp cận này, hệ thống chính trị của xã hội được 6 hiểu là “hệ thống các tổ chức xã hội mang tính chất Nhà nước và phi Nhà nước để thực hiện các chức năng chính trị, thực hiện sự lãnh đạo, điều tiết đời sống chính trị xã hội hoặc tham gia vào quyền lực chính trị”. Ngược lại, cách tiếp cận rộng về mặt cơ cấu của hệ thống chính trị ngoài những yếu tố được nêu trên, trong hệ thống chính trị mở rộng đến các thành tố như hoạt động chính trị, quan hệ chính trị, các thành tố thuộc về ý thức và tư tưởng (quan điểm, lý luận, học thuyết) chính trị .v, tức là tất cả những gì có nội dung chính trị. Những định nghĩa sau phản ánh hướng tiếp cận rộng về hệ thống chính trị; “Hệ thống chính trị là tập hợp tất cả các tổ chức và cơ quan chính trị và Nhà nước có liên quan với nhau, thể hiện cơ cấu giai cấp của xã hội, các quan hệ chính trị của tất cả các giai cấp”.
Trong phạm vi luận văn sử dụng định nghĩa sau: hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng của xã hội, gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ chỉnh thể với nhau về mục đích, về chức năng trong thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị. Theo Hiến pháp nước CHXHCNVN, hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay về cấu trúc chiều ngang gồm, Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội gồm có: Công đoàn Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam; cấu trúc dọc của hệ thống chính trị Việt Nam gồm 4 cấp - trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quận, huyện và cấp cơ sở. Hệ thống chính trị cơ sở. Cơ sở được nghiên cứu ở đây là khái niệm dùng để chỉ cấp thấp nhất trong hệ thống bốn cấp với cấu trúc theo chiều dọc của hệ thống chính trị, quản lý hành chính Nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Trong các văn bản hành chính có những thuật ngữ đáng chú ý liên quan đến tên gọi của cấp, ngành. Hệ thống chính trị cấp cơ sở gồm hệ thống chính trị cấp xã, phường, thị trấn; Đồng thời trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương hệ thống chính trị cơ sở được gọi chung là hệ thống chính trị cấp xã. 7 Hệ thống chính trị cơ sở làm tốt vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình theo đúng Hiến pháp và pháp luật, các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và cả hệ thống chính trị ở xã sẽ tham gia và đóng góp vào hoạt động chung của toàn bộ hệ thống chính trị. Để làm được như vậy ngoài sự nỗ lực của bản thân cần thiết phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự phối hợp giúp đỡ và tạo điều kiện của cấp trên một cách thường xuyên, thiết thực.
Về cấu trúc: Hệ thống chính trị cấp cơ sở là một chỉnh thể các tổ chức chính trị thực thi những chức năng nhất định trong xã hội bao gồm Đảng bộ cơ sở, chính quyền (UBND & HĐND), các tổ chức chính trị - xã hội; hoạt động trong một cơ chế nhất định nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cấp cơ sở. Đảng bộ cơ sở: nòng cốt là Ban chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc triển khai, đề ra các chủ trương, đường lối, nghị quyết định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng các hoạt động của đảng viên trong bộ máy chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở cơ sở; bằng việc giới thiệu đảng viên ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các đoàn thể nhân dân; bằng công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên. Chính quyền địa phương là trụ cột của hệ thống chính trị cơ sở, có vai trò quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp và Pháp luật. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, nhiệm vụ do cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đồng thời đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản tại địa phương. 8 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng tuyên truyền, vận động người dân ở địa phương thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, của chính quyền cơ sở; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; chăm lo lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đoàn viên, hội viên. Đồng thời, thực hiện chức năng giám sát, phản biện đối với hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở. Ngoài ra, ở cấp cơ sở hiện nay còn nhiều tổ chức, hội đoàn do người dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo phương thức tự quản và tuân thủ pháp luật, góp phần tạo ra sự liên kết, đồng thuận trong xã hội.
Những tổ chức này tuy không phải là bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở nhưng có mối quan hệ không thể thiếu với hệ thống này. Vì vậy, nếu hệ thống chính trị cơ sở biết tạo điều kiện, phát huy sức mạnh của các tổ chức này thì sẽ tập trung sự đoàn kết, thống nhất, hợp tác, sáng tạo trong cộng đồng xã hội sẽ được nhân rộng, đem lại sự ổn định ở cơ sở, tạo ra sức mạnh lớn cho sự phát triển tại cơ sở, làm cho nền tảng xã hội của Đảng, Nhà nước và của cả chế độ được củng cố vững mạnh ngay từ cơ sở. Như vậy, xét về cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị cơ sở có rất nhiều tổ chức hợp thành với vị trí, vai trò, chức năng và thẩm quyền khác nhau. Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của từng tổ chức này, cũng như các mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống theo tư tưởng: nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý điều hành của chính quyền, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân tại cơ sở.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có tên gọi ban đầu là Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, do Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, được thành lập ngày 18/11/1930. MTTQVN là tổ chức liên minh chính trị, các tổ chức chính trị- xã hội, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư tại nước ngoài. Từ khi thành lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng và cùng trải qua các thời kỳ hoạt động cách mạng với những tên gọi khác nhau, Mặt trận tổ quốc tập hợp, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc của Việt Nam là một 9 nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị và là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương, dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động.