LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xoá đói, giảm nghèo là vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu. Là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong 8 mục tiêu của bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ năm 2000. Quyết tâm thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng trong những năm qua, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Điều đó khẳng định đây là chủ trương, chính sách lớn, là mục tiêu ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta nhằm không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, các địa bàn, các dân tộc và các nhóm dân cư. Bắc Yên là huyện vùng cao miền núi đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 94%. Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo cao chiếm trên 50% (năm 2016), cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, thu nhập thấp, số hộ nghèo ở nhà tạm còn còn cao; sự chênh lệnh về phân bố tỷ lệ hộ đói nghèo không đồng đều, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện, thiếu vốn; cơ sở hạ tầng thiếu chưa đồng bộ; một số vấn đề xã hội chưa được giải quyết triệt để như: ma tuý, di dịch cư tự do. Đó là những trở ngại chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo của huyện.
Đề án giảm nghèo bền vững của huyện Bắc Yên được cấp có thẩm quyền phê duyệt là cơ hội rất lớn để đưa huyện Bắc Yên thoát nghèo đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, thu hẹp khoảng cách về kinh tế - xã hội so với các huyện khác trong tỉnh. Vì vậy, việc thực thi Đề án giảm nghèo sao cho có hiệu quả đạt được mục tiêu đề ra là yêu cầu cấp bách của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Bắc Yên hiện nay, với lý do đó đó, đề tài " Tổ chức thực thi Đề án giảm nghèo bền vững đối với đồng bào vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La" đã được chọn làm luận văn tốt nghiệp. Tổng quan tình hình nghiên cứu Giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo.
Ngược lại, giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Giảm nghèo còn là yêu cầu cần thiết ổn định chính trị, xã hội. Ở nước ta hiện nay có trên 90% số hộ nghèo tập trung ở vùng nông thôn, nhất là vùng trung du, miền núi; trong đó số hộ nghèo là vùng dân tộc thiểu số và những hộ thuộc diện chính sách phải ưu tiên chiếm tỷ lệ cao. Trong những năm gần đây một số vấn đề về chính trị, xã hội ở một số vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi khó khăn diễn biến phức tạp.
Tình trạng hủ tục lạc hậu, nạn mê tín dị đoan. Di dịch cư tự do gia tăng, nếu gắn với nghèo đói thường xuyên sẽ có nguy cơ tạo nên sự mất ổn định chính trị. Điều đó có nghĩa là giảm nghèo ở nước ta không đơn thuần là một chương trình kinh tế mà còn là chương trình mang ý nghĩa ổn định chính trị, xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ, như vậy Nếu giải quyết không thành công vấn đề giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội và phát triển kinh tế mà Việt Nam đang phấn đấu. Nhận thức được sự cần thiết của vấn đề này, nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh, các nhà khoa học…ở Việt Nam trong các lĩnh vực đã đi sâu nghiên cứu và có những công trình đóng góp thiết thực cho Đảng và Nhà nước trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo.
Trong quá trình nghiên cứu, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học viết về vấn đề giảm nghèo đặc biệt là chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số.TS Lê Quốc Lý học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tác giả nêu lên những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công cuộc đổi mới, chống đói nghèo, về vấn đề đói nghèo, thực trạng đói nghèo ở Việt Nam, những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo từ đó đề xuất định hướng và mục tiêu, cơ chế và chính sách, những giải pháp để xóa đói, giảm nghèo cho giai đoạn tiếp theo. Cũng 3 nghiên cứu về Chính sách xóa đói giảm nghèo trong cuốn sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi nước ta - Những thành quả và thách thức (2006)”tác giả Trần Thị Tường Vânđề cập đến những thách thức, thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở nông thôn, miền núi, và giải pháp định hướng cho công tác xóa đói, giảm nghèo trong thời gian tới. (2) Nghiên cứu Đề tài cấp bộ “Thực trạng và giải pháp xóa đói, giảm nghèocho đồng bào dân tộc vùng núi cao tỉnh Thái Nguyên”, tác giả Trần Chí Thiện, nghiên cứu các yếutố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ đồng bào Dân tộc thiểu số, đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ các dân tộc vùng cao gồm: tuổi bình quân của chủ hộ, nhân khẩu,học vấn, diện tích đất nông nghiệp, vốn vay phương tiện sản xuất… và ra kết luận là các nguyên nhân chính dẫn tới tỉnh trạng đói nghèo của đồng bào Dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi tinh Thái Nguyên. Tuy nhiên, cũng chưa đề cập sâu các vấn đề về thể chế, chính sách và các giải pháp QLNN nhằm thoát nghèo bền vừng cho đồng bào Dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn tới.
(3) Nghiên cứu bài viết "Ảnh hưởng yếu tố văn hóa tới sự tham gia của người dân trong các chương trình giảm nghèo ở Tây Nguyên” của Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng - Viện Khoa học Xã hội vùng Tây Nguyên đã chứng minh một số yếu tố văn hóa xã hội đã ảnh hưởng và trở thành rào càn, khó khăn trong sự tham gia của người dân trong công tác giảm nghèo như: Ngôn ngữ; Phong tục tập quán; gia đình, dòng họ; định kiến, tự ti; ảnh hưởng của điều kiện địa hình, địa lý tự nhiên, Sự phân công công việc trong thực hiện; Trình độ, nhận thức của người dân; Tâm lý mùa vụ, tụ cung tự cấp, tệ nạn xã hội; Thiết chế cộng đồng xã, bản; Năng lực cán bộ cơ sở đặc biệt là tại các bản và yếu tố bình đẳng giới. Từ những nghiên cứu thực tiễn trên, tác giả đã chỉ rõ những yếu tố văn hóa liên quan tộc người làm ảnh hường tới quá trình tham gia cũng đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình, dự án giảm nghèo ở địa bàn các huyện Tây Nguyên mà trong quá trình nghiêncứu, thực hiện luận văn này, liên hệ với đặc điểm tự nhiên, t ình hình kinh 4 tế, văn hóa, xã hội, nhất là văn hóa dân tộc, tộc người, có thế nghiên cứu, áp dụng trên địa bàn huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. (4) Hội thảo khoa học “Sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Đông Bắc” do học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Tỉnh ủy Tuyên Quang tổ chức. Tại hội thảo này, các đại biểu tham dự cùng, các nhà khoa học đã có nhiều ý kiến tham luận, trao đổi với mục đích nhằm có giải pháp phù hợp để phát triển sinh kế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giảm nghèo bền vững.
Cụ thể là trao đổi để làm rõ hơn lý luận cơ bản về sinh kế nhằm giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên cơ sở đó nhằm vận dụng vào việc hoạch định chủ trương, đường lối phát triển sinh kế bền vững đồng thời đánh giá những tác động của bối cảnh mới, xác định vị trí, vai trò, lợi thế so sánh, đánh giá thực trạng, cơ hội, thách thức, định hướng về phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Đông Bắc; đánh giá vai trò của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị- xã hội đối với phát triển sinh kế bển vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Hội thảo nhấn mạnh, giảm nghèo bền vững là chính sách xuyên suốt, thể hiện quan điểm, tính nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước và của chế độ ta đặc biệt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hội thảo cũng đã chỉ ra nhưng chính sách chưa phù hợp, còn những “kẽ hở” trong quá trình thực thi. Qua đó cho thấy sinh kế bền vững cần phải gắn với kinh tế thị trường; kinh tế hộ gia đình gắn với nông, lâm nghiệp; du lịch phải gắn với văn hóa.
Đồng bào dân tộc thiểu số phải thực sự trở thành chủ thể thực hiện sinh kế, phát huy sáng tạo tính chủ động, khát vọng vươn lên của người dân theo hướng nâng cao khả năng thích ứng, nhất là những tác động từ thiên nhiên và biến đổi khí hậu, các giải pháp này có thế nghiên cứu, áp dụng trên địa bàn huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. (5) Nghiên cứu luận văn tiến sỹ “Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc đến năm 2020” của tác giả Nguyễn Đức Thắng (2016) tác giả nghiên cứu tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc. Nghiên cứu đánh giá được thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xóa đói, giảm 5 nghèo ở các tỉnh Tây Bắc, chỉ ra những ưu điểm trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện và những tồn tại, hạn chế trong công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách như kết quả giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu-nghèo giữa các khu vực, nhóm dân cư chưa được thu hẹp; chưa khai thác, huy động được nhiều nguồn lực tại chỗ, chưa phát huy hết nội lực trong dân; thiếu chế tài về cơ chế quản lý; sự tham gia của các tổ chức đoàn thể chưa thật sự có hiệu quả; quá trình triển khai, thực hiện chính sách giảm nghèo chủ yếu được thực hiện theo hình thức từ trên xuống với những cơ chế, kế hoạch cứng nhắc theo ý chí của cấp ban hành.