phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được chia thành 4 chương, 10 tiết 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨULIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Sự tác động của nền kinh tế thị trường mà nước ta thực hiện gần 30 năm qua đã làm cho đời sống xã hội có nhiều biến đổi, trong đó có đạo đức. Chính vì vậy, vấn đề về sự biến đổi đạo đứctừ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đã và đang lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, là đối tượng của nhiều công trình khoa học thuộc các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Đạo đức doanh nhân (là cách gọi tắt của đạo đức doanh nhân trong kinh doanh) cũng có được sự quan tâm như vậy.Nghiên cứu về doanh nhân, đạo đức doanh nhân, chuẩn mực đạo đức doanh nhân 1. Những nghiên cứu về doanh nhân, đạo đức doanh nhân Doanh nhân và đạo đức doanh nhân không phải là một vấn đề mới xuất hiện trong thế giới hiện nay, mà những tư tưởng của nó đã có từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Những nghiên cứu về doanh nhân:Trong cuốn bài giảng: “Văn hóa kinh doanh”, tác giả Dương Thị Liễu đã làm rõ lịch sử ra đời của doanh nhân, bản chất doanh nhân, phong cách doanh nhân. Trong lịch sử ra đời của doanh nhân, tác giả cho rằng: Khi lực lượng sản xuất còn thấp kém, phân công lao động chưa phát triển, trao đổi sản phẩm mới chỉ là bột phát do nhu cầu sinh tồn của các thành viên trong thị tộc, bộ lạc và nguyên tắc cùng làm cùng hưởng vẫn được mọi người thực hiện một cách tự nhiên thì doanh nhân chưa xuất hiện. Cũng theo tác giả Dương Thị Liễu: chữ doanh nhân trong tiếng Việt dịch ra tiếng Anh là businessman, đó là người chủ doanh nghiệp. Trong lịch sử, từ 8 businessman xuất hiện khá sớm trên thế giới.
Năm 1700, Richard Cantitlon đã xây dựng lý thuyết doanh nghiệp, theo ông, kinh doanh là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Vì thế, chủ doanh nghiệp/doanh nhân là những người thường đối mặt với rủi ro và phải biết chấp nhận rủi ro ấy. Do đặc điểm phát triển kinh tế của mình, trong quan niệm của các nước phương Đông, doanh nhân chủ yếu vẫn là các thương gia, thương nhân – những người hoạt động trong lĩnh vực buôn bán. Theo nghiên cứu của tác giả Dương Thị Liễu, đến thế kỷ 20, nhận thức về doanh nhân có nhiều thay đổi.
Doanh nhân hay chủ doanh nghiệp thường được xem như là những người tổ chức và điều hành một doanh nghiệp, thực hiện các hoạt động kinh doanh để kiếm lời. Với sự phát triển không ngừng của hoạt động kinh doanh, doanh nhân được thừa nhận là tầng lớp thường xuyên đóng góp phần sáng kiến, kỹ năng và sự khéo léo trong việc hoạch định, tổ chức và quản trị doanh nghiệp. Trong cuốn “Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế” của tập thể nhiều tác giả do Phùng Xuân Nhạ chủ biên, đã định nghĩa rằng: “Doanh nhân Việt Nam hiện nay là một cộng đồng xã hội bao gồm những người làm nghề kinh doanh dám chịu rủi ro và có mục tiêu vì lợi”. Với định nghĩa này, các tác giả thừa nhận, hiểu về doanh nhân như vậy thực sự chưa đầy đủ, toàn diện, song nó đã khắc phục được một số thiếu sót và bổ sung nhiều điểm mới của trong quan điểm của nhiều tác giả đi trước.
Theo đó, có thể khẳng định doanh nhân là khái niệm rất rộng, bao gồm: những chủ thể kinh doanh thuộc hộ gia đình không lập doanh nghiệp; những doanh nhân người Việt đang kinh doanh ở nước ngoài; lãnh đạovà nhân viên trong doanh nghiệp nhà nước làm kinh doanh hoặc vừa kinh doanh vừa làm công ích. 9 Trong bài viết về “Văn hóa kinh doanh - Cách tiếp cận và những vấn đề đặt ra”, tác giả Lê Hữu Ái đã chỉ ra doanh nhân là ai. Theo tác giả:“Doanh nhân là cá nhân có ý chí và khát vọng làm giầu, là thuyền trưởng của doanh nghiệp vượt qua thác ghềnh”,[ tr. Cũng theo tác giả những yếu tố tạo thành nhân cách doanh nhân thành đạt đó là: có tri thức làm giàu (hiểu biết về kinh doanh), có khát vọng làm giàu(có ý chí nghị lực cá nhân mạnh mẽ), biết cách làm giàu(kỹ năng và nghệ thuật kinh doanh) Theo kết quả khảo cứu nhiều tài liệu khác nhau trong lịch sử xã hội loài người, có thể thấy rằng: Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới phân công lao động phát triển tạo ra ba nghề trong xã hội: chăn nuôi, thủ công, buôn bán thương mại.
Trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu, sản phẩm do lao động làm ra trở thành hàng hóa, doanh nhân xuất hiện. Đồng thời với nó, đạo đức doanh nhân cũng ra đời. Đây cũng là thời kỳ mới của nhân loại, có mâu thuẫn đối kháng giai cấp, có bộ máy nhà nước, con người không sống “ngây thơ thuần phác” nữa, quan hệ giữa con người với con người tự nhiên dẫn tới yêu cầu đạo đức: không được trộm cắp, phải sòng phẳng trong giao thiệp “tiền trao cháo múc”, phải có chữ tín, biết tôn trọng các cam kết, thỏa thuận,v. Trong cuốn bài giảng “Văn hóa kinh doanh”, khi nói về lịch sử doanh nhân, tác giả Dương Thị Liễu đã khẳng định rằng:tầng lớp doanh nhân xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người,sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự hình thành tầng lớp doanh nhân, họ là những người buôn bán, sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Nghiên cứu về đạo đức doanh nhân trong kinh doanh: Đạo đức doanh nhân được ra đời cùng với doanh nhân và hoạt động kinh doanh của họ, tức là nó chỉ ra đời khi sản xuất đã phát triển đến một trình độ nhất định. Cụ thể là, 10 khi xã hội có sản xuất hàng hóa và trao đổi buôn bán các loại hàng hóa trên thị trường, đặc biệt trong xã hội đã xuất hiện và tồn tại tầng lớp doanh nhân mà trước hết là những nhà buôn (thương nhân) với nghề nghiệp chính là buôn bán. Bởi vậy,sự hình thành và phát triển các hoạt động buôn bán hay hoạt động thương nghiệp cũng chính là một nguồn gốc tạo ra khái niệm đạo đức doanh nhân trong kinh doanh. Với kết quả khảo cứu ở nhiều công trình nghiên cứu, theo tác giả muốn xác định rõ được lịch sử của sự ra đời đạo đức doanh nhân ở Việt Nam, cần phải lần theo dấu vết lịch sử phát triển hoạt động thương nghiệp (nay gọi là thương mại) của Việt Nam.
Làm được điều này thật khó, bởi vì, từ trước tới nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào chính thức công bố về thời gian hình thành một cách chính xác nền thương nghiệp Việt Nam. Từ xa xưa, trong dân gian, người Việt Nam đã có câu nói rằng “phi thương bất phú”, tức là “không có buôn bán thì không thể giàu có được”. Song, người xưa vẫn thường không coi trọng nghề buôn bán, thậm chí miệt thị những người làm nghề này với cách gọi “con buôn”. Cũng vì suy nghĩ như vậy mà thời kỳ bao cấp ở nước ta trước đây,trong xã hội, cụm từ “con phe” được dùng khá thông dụng và phổ biến.
Điều này có thể được lý giải rằng, người đời xưa thường trọng đạo đức, coi thường những gì là tiền bạc giả dối, trong khi những người buôn bán thì thường vì tham lợi mà không thành thật. Do đó, trong thời phong kiến kéo dài hàng nghìn năm tại nước ta, con người Việt Nam thường chỉ hướng vào thi phú và quan trường. Ngành nghề duy nhất được coi trọng là nông nghiệp. Trong sự phát triển của mình, bản thân nền sản xuất nông nghiệp cũng tất yếu nảy sinh nhu cầu trao đổi buôn bán, nên nhiều chợ búa cũng được sinh ra từ nhu cầu này.
Tuy nhiên, theo các nhà sử học Việt Nam, do xã hội Việt Nam dựa trên nền tảng của một nền kinh tế tiểu nông gắn với cơ cấu làng xã 11 cùng với chính sách có xu hướng “ức thương” của các nhà nước phong kiến nên khó hình thành một tầng lớp thương nhân lớn, như một thế lực xã hội. Ngay những địa điểm được coi là đô hội và buôn bán trù phú nhất trong lịch sử nước ta như Phố Hiến cũng chỉ là sự bùng phát một thời với những yếu tố ngoại thương của các thương nhân nước ngoài đến tham dự hội chợ theo mùa và cuối cùng tàn lụi. Đến đầu thế kỷ 20, dù có những biến chuyển, nhưng công nghiệp và thương nghiệp nước ta vẫn như chập chững những bước đi đầu tiên. Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” viết năm 1925, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Ở Đông Dương, chúng ta có đủ tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn như: hải cảng, hầm mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng rú bao la; chúng ta có những người lao động khéo léo và cần cù.
Nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức! Bởi thếcông nghiệp và thương nghiệp của chúng ta là một con số không” [86; tr. Cái “tổ chức” và “người tổ chức” ở đây chính là doanh nghiệp và doanh nhân.Dẫu vậy, cũng không thể phủ nhận rằng, từ đầu thế kỉ 16 thương mại của Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc với việc ra đời của các đô thị thương mại lớn như Phố Hiến, Hội An, Vân Đồn, Thanh Hà, Gia Định. Nhưng khái niệm đạo đức doanh nhân ở thời điểm này còn khá xa vời. Đăc biệt, khi nói tới người làm nghề thương nghiệp là người ta chỉ nói ngay tới sự tham lam chuộc lợi.Những nguyên nhân trên, chính là một trong những thủ phạm khiến nước ta luôn nghèo và không theo kịp với nhịp độ kinh tế của các nước khác.
Đến cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, khi thực dân Pháp hoàn thành xâm chiếm và tăng cường khai thác Việt Nam, xã hội nước ta cũng bị phân hóa mạnh mẽ. Giai cấp tư sản ra đời và tập trung đầu tư vào kinh doanh, buôn bán. Hàng loạt cuộc vận động cải cách đất nước đều đề cao thương mại. Ví dụ 12 tiêu biểu về khái niệm đạo đức doanh nhân thời kì này được thể hiện trong tư tưởng của Lương Văn Can.
Ông để lại cho đời hai tác phẩm là “Kim cổ cách ngôn” và “Thương học phương châm” (hiện còn ở dạng bản thảo, lưu giữ tại Thư viện Khoa học Trung ương và gia đình tác giả).