Mở đầu - Phần II: Tổng quan đề tài nghiên cứu - Phần III: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu. - Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. - Phần V: Kết luận và kiến nghị. 4 PHẦN II:TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lí luận của đề tài 1.1 Một số đặc điểm chung của sản xuất chè 1.1 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Chè đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội, văn hóa của con người. Cây chè được trồng khắp mọi nơi trên thế giới. Với nhiều giống chè khác nhau, chè mang đến cho thế giới những sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của hầu hết người tiêu dùng trên thế giới.
Ngoài tác dụng là nước giải khát chè còn được coi như một loại thần dược phòng và chữa bệnh cho con người, là lớp thực vật bảo vệ đất và môi trường. Sản phẩm chè của nước ta không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nội địa mà còn được xuất khẩu nhiều nơi trên thế giới. Góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông sản trong nước, đồng thời thu về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho đất nước. Đối với người nông dân sản xuất chè, ngoài việc tạo công ăn việc làm ổn định và đem lại thu nhập cho gia đình góp phần dùy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ.
Hầu hết người nông dân làm chè họ ít bị thấp nghiệp và có thu nhập cao và ổn định hơn hầu hết cây trồng khác trong vùng. Ngoài giá trị về kinh tế, cây chè đã góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Vì là cây công nghiệp dài ngày và phát triển tương đối ổn định (chè Trung du chu kì sống khoảng 30 – 40 năm, chè giống mới 15 – 20 năm) đã góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững cho 1 đất nước còn đang phát triển như nước ta (Lê Tất Khương, Đỗ Ngọc Quý, 2000)[5]. Như vậy, việc phát triển sản xuất chè không những góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội mà góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân, cải thiện đời sống ở nông thôn, làm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn.
Không những vậy việc sản xuất chè còn góp phần thúc đẩy nhanh hơn 5 quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, giảm bớt khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền khác nhau trong cả nước[1].2 Khái niệm một số loại giống chè + Giống chè Trung du (hay còn gọi là chè ta) đây thực chất là giống chè Trung Quốc, được du nhập vào nước ta từ rất lâu đời, ở vùng Trung du Bắc Bộ. Giống có khả năng thích ứng với vùng đất khô cằn, khả năng chịu sâu bệnh tốt và thích hợp ở mức trung bình cho cả sản xuất chè đen và chè xanh. Hiện này, giống này chiếm khoảng 60% tổng diện tích chè của cả nước. + Giống chè lai: Có các loại giống lai phổ biến như LDP1, LDP2.
Chè lai có đặc điểm chung là năng suất cao hơn vì búp to hơn, dậy mùi thơm hơn nhưng vị thường nhạt hơn. + Giống chè TRI777: Thuộc biến chủng chè Shan, cây sinh trưởng khá, búp to có lông tuyết, mật độ búp thấp, góc độ phân cành hẹp, tán tương đối rộng. Đây là giống thích hợp chế biến chè xanh và chè đen chất lượng cao. Dễ giâm cành, cây sinh trưởng khoẻ, khi trồng có tỷ lệ sống cao.
Khả năng chống chịu đối với sâu bệnh hại kém: bị bọ xít muỗi và rệp phảy phá hại nặng. + Giống mới: Các giống chè mới thường được nhập từ nước ngoài như: Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc.Các giống này thường có mùi thơm đặc trưng, hoàn toàn khác mùi hương chè thông thường. + Giống Kim Tuyên (Kim Huyên, A17 hoặc dòng 27) có nguồn gốc là giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975. Nhập nội vào Việt Nam từ 1994.
Trồng ở các tỉnh Lâm Đồng, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn, Thái Nguyên. + Giống chè Phúc Vân Tiên: Có nguồn gốc là giống vô tính của Trung Quốc, chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Phúc Đỉnh Đại Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to từ 1957-1971 bởi Viện Nghiên cứu chè tỉnh Phúc Kiến nhập nội vào Việt Nam năm 2000 [12]. Còn nhiều giống chè khác, nhưng trên đây là giống chè phổ biến được trồng tại Việt Nam. Cách phân biệt của nông dân thì người ta thường gọi giống chè Trung du (chè ta) là giống chè truyền thống vì nó được đưa vào Việt Nam 6 khá lâu đời (trồng bằng hạt).
Giống chè lai (LDP1, LDP2 ) + giống chè mới (Giống chè TRI777, Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc.) người ta gọi chung là chè cành mới xuất hiện vài chục năm trở lại đây và có đặc điểm phân biệt là khi trồng người ta dùng cành giâm ươm sau đó mang đi trồng. Nhìn chung các giống chè có những đặc điểm và quy trình chăm sóc tương đối giống nhau. Tuy nhiên, mỗi loại giống chè có những đặc điểm riêng nhất định. Sau đây chúng ta xét nhưng đặc điểm chung của cây chè.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản.
Vì thế để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài nước. Cây chè là cây trồng mũi nhọn của địa phương vì thế cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè. Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè a. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên Yêu cầu tổng hợp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt, sâu, chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm.
Dưới đây, chúng ta xét một số điều kiện sinh thái chủ yếu: + Điều kiện đất đai và địa hình: So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm. Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước. Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường.
- Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung Du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica. Ở vùng núi phần 7 lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét. Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước. - Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè.
Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè không trồng trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng. Kinh nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vực thấp. Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 m. Vùng chè ngon có tiếng ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.
Ở độ vĩ càng cao phẩm chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp. Do độ nhiệt thấp, độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và tích lũy vật chất trong cây chè [8]. + Điều kiện độ ẩm và lượng mưa: Chè là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng quan trọng hơn. Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng.
Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt. Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85%. Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cao hay thấp. Vùng chè Doomđome ở Bắc Ấn Độ lượng mưa phân bố nhiều vào tháng 5 tới tháng 8 cho nên sản lượng chè thu hoạch được trong năm cũng tập trung vào thời kỳ đó.
Vùng chè Mlanji (Nam Phi) lượng mưa tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 nên sản lượng chè cao nhất trong năm 8 cũng tập trung vào thời kỳ này. Ở ta phân bố sản lượng chè trong năm cũng có quan hệ rõ rệt với tình hình phân bố lượng mưa trong các tháng [8].1: Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chè Tháng 1-2 3-4 5 6 7 8 9 10 11-12 Sản lượng chè trong 0,39 7,2 -5,3 10,4 14,7 16,6 13,2 16,5 10,6 4,06 năm (%) Lượng mưa tháng > 100 50 50–100 50 (mm) vụ thu hoạch chè chủ yếu (Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ) Tổng lượng mưa bình quân hàng năm ở các vùng trồng chè của nước ta tương đối thỏa mãn cho nhu cầu về nước của cây chè. + Điều kiện độ nhiệt không khí: Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt nhất định. Theo nghiên cứu của Kvaraxkhêlia (1950) và Trang Vãn Phương (1956) thì cây chè bắt đầu sinh trưởng khi độ nhiệt trên 10oC.
Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5oC và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 23oC.