Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nông nghiệp sạch và rau an toàn Để hiểu rõ khái niệm RAT một cách hoàn chỉnh cần xuất phát từ quan điểm về nông nghiệp sạch. Hiện nay, trên thế giới và ở nước Việt Nam có 2 quan điểm về nông nghiệp sạch đó là: nông nghiệp sạch tuyệt đối và nông nghiệp sạch tương đối.
Nông nghiệp sạch tuyệt đối còn gọi là nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học. Ở đây người ta thiên về biện pháp hữu cơ và sinh học, trở lại canh tác tự nhiên, không dùng các loai phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, chấp nhận năng suất cây trồng không cao để lấy “Sản phẩm hoàn toàn sạch’’ cũng có thể sản xuất rau, hoa, quả…trong nhà kính, nhà lưới để cách ly với các yêu tố độc hại của môi trường. Nông nghiệp sạch tuyệt đối chỉ thực hiện ở các nước có dư thừa lương thực - thực phẩm, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho sản xuất, ở các quy mô nhỏ và người tiêu dùng chấp nhận giá thành cao của sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp sạch tương đối: Ở đây người ta vẫn áp dụng các biện pháp thâm canh hiện đại, đặc biệt là các thành tựu về công nghệ sinh học, kết hợp các biện pháp hữu cơ - sinh học với các biện pháp khác nhưng với công nghệ đảm bảo các sản phẩm nông nghiệp không có hoặc có dưới mức hàm lượng cho phép các dư lượng hóa chất độc hại, đảm bảo giá thành hợp lý của sản phẩm nông nghiệp sạch.
Khái niệm về rau an toàn Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả có chất lượng đúng như đặt tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "RAT". 6 Theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành ngày 9/11/2012: “Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế, chế biến phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định” (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2012). RAT là rau được sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật, hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng nhằm giảm tối đa lượng độc tố tồn đọng trong rau như dư lượng thuốc BVTV; gốc nitrat và các yếu tố độc hại gây bệnh khác nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo vệ sinh an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng. - RAT là rau không có đất, cát, rác hoặc các chất bám vào thân, lá, cành của rau.
- RAT là rau được thu hoạch đúng lúc, phù hợp với yêu cầu của từng loại rau quả cụ thể như đúng độ già về kỹ thuật hay thương phẩm, không dập nát hư thối, sử dụng đúng lúc rau có khả năng cho năng suất, chất lượng cao nhất của từng đợt và từng lứa thu hái. - RAT là rau tươi không chứa các tạp chất, sâu bệnh, có bao bì vệ sinh sạch, bảo đảm đến người sử dụng ăn ngon, tươi và an toàn. - RAT không chứa các dư lượng độc hại vượt quá ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn vệ sinh y tế không bị nhiễm các hóa chất, thuốc BVTV, hàm lượng nitrat, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh khác. Tóm lại: RAT phải đảm bảo các yêu cầu sau: + Không chứa dư lượng thuốc trừ sâu quá mức cho phép + Không chứa lượng nitrat quá mức cho phép 7 + Không chứa các vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, gia cầm (kể cả ăn sống và nấu chín ngay khi ăn và cả một thời gian sau khi ăn).
+ Không tồn dư một số kim loại nặng như: Thủy ngân (Hg), chì (Pb)… quá ngưỡng cho phép theo “Quy định tạm thời về sản xuất RAT”, quyết định số 67/2018 của Bộ NN & PTNT ngày 28/04/1998. Khái niệm và phân loại hiệu quả * Phân loại hiệu quả Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết quả có liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người. Những kết quả đạt được ngoài hiệu quả kinh tế bao gồm: nâng cao chất lượng cuộc sống; giải quyết công ăn việc làm; góp phần ổn định chính trị xã hội; trật tự an ninh; xây dựng xã hội tiên tiến; cải tạo môi trường sinh thái; nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân tức là đạt hiệu quả về mặt xã hội.
Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, ngoài hiệu quả về kinh tế và xã hội, còn cần xem xét đến hiệu quả về môi trường. Như vậy, căn cứ theo nội dung và bản chất, có thể phân thành 3 phạm trù là: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Ba phạm trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. *) Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối. Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tương đối giữa 8 các kết quả đem lại và chi phí bỏ ra. Khi xác định hiệu quả kinh tế phải xem xét đầy đủ mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối.
Hiệu quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào và đầu ra. *) Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh về mặt xã hội như: Tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập ổn định và tạo ra sự công bằng xã hội trong cộng đồng dân cư, cải thiện đời sống nông thôn…. *) Hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính chất lâu dài, vừa đảm bảo lơi ích trước mắt, vừa đảm bảo lợi ích lâu dài, nó gắn chặt chẽ với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên - nước và môi trường sinh thái. Trong 3 phạm trù trên, hiệu quả kinh tế là có vị trí trung tâm, có vai trò quyết định nhất, nhưng hiệu quả kinh tế chỉ được coi là đánh giá một cách đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội và môi trường.
Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế, ta có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế. +) Căn cứ vào phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh tế thành những loại sau: - Hiệu quả kinh tế theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như: Công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, … Trong từng ngành lớn, có thể xem xét hiệu quả kinh tế của những ngành hẹp hơn. - Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội. - Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp là xem xét hiệu quả kinh tế trong hoạt động của từng doanh nghiệp.
Vì mỗi doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng và lấy lợi nhuận là mục tiêu cao nhất. - Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất: vật chất, phi vật chất và sản xuất dịch vụ. +) Căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành những loại sau: - Hiệu quả sử dụng vốn. 9 -Hiệu quả sử dụng lao động.
- Hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị. - Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng… - Hiệu quả áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý. Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông sản a. Các quan điểm về hiệu quả kinh tế Về hiệu quả kinh tế, kết quả tổng quan tài liệu cho thấy, hiện đang tồn tại hai quan điểm khác nhau về vấn đề này, cụ thể là: * Quan điểm truyền thống Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí.
Nhiều tác giả theo quan điểm này cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh. Quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét đến hiệu quả kinh tế. Sự thiếu toàn diện được thể hiện qua những khía cạnh sau: Thứ nhất, hiệu quả kinh tế được xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư.