Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học "Đánh giá công tác xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Long – huyện Hòa An – tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2017" do sinh viên Phạm Thị Hồng Hạnh thực hiện năm 2018 tại Khoa Quản lý tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Đình Thi. Công trình thuộc chuyên ngành Địa chính môi trường, thuộc loại hình nghiên cứu thực trạng, thống kê mô tả và đánh giá việc thực thi chính sách công tại địa bàn cấp xã miền núi.
Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ chủ trương thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 trên quy mô toàn quốc. Tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, quá trình triển khai đã mang lại nhiều chuyển biến về diện mạo nông thôn và nhận thức của nhân dân. Tuy nhiên, ở cấp cơ sở, người dân với tư cách là "chủ thể" của quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn chưa phát huy được tối đa vai trò tự chủ; nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa vẫn gặp lúng túng trong việc duy trì và hoàn thiện các tiêu chí do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Để làm rõ thực trạng này tại một địa bàn cụ thể, tác giả đã chọn xã Bình Long làm đối tượng nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể của đề tài được văn bản xác định gồm 3 nội dung:
- Đánh giá kết quả thực hiện 19 tiêu chí trong phương án Quy hoạch nông thôn mới của xã Bình Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2017.
- Nghiên cứu những tác động tích cực và tiêu cực của việc thực hiện phương án đến các mặt kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường của địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt phương án Quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã Bình Long.
Đề tài đặt ra các yêu cầu: số liệu thu thập phải chính xác; đánh giá đúng vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới; đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác xây dựng nông thôn mới và kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã Bình Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (diện tích 1.746,61 ha, gồm 16 xóm).
- Phạm vi thời gian: Đánh giá số liệu giai đoạn 2015 – 2017. Thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu thực địa từ ngày 07/09/2017 đến ngày 27/11/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên hệ thống các khái niệm cơ bản về nông thôn, phát triển nông thôn (theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới năm 1975) và xây dựng nông thôn mới. Mô hình nông thôn mới được xác định dựa trên 5 đặc trưng: xây dựng trên đơn vị làng - xã; đề cao tính tự chủ của người dân; người dân chủ động lập kế hoạch và tham gia; huy động nội lực cộng đồng là chính thay vì dựa vào hỗ trợ bên ngoài; các tổ chức nông dân hoạt động hiệu quả.
Khung văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống tiêu chí được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu gồm:
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (19 tiêu chí chia thành 5 nhóm).
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020.
- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/04/2011 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg.
- Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/08/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.
- Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.
- Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 05/05/2017 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016 – 2020 (19 tiêu chí, 49 chỉ tiêu).
- Quyết định số 1258/QĐ-UBND ngày 16/07/2012 của UBND huyện Hòa An phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất và sản xuất nông lâm nghiệp xã Bình Long.
- Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 09/TT-BNNPTNT về đánh giá phân loại hợp tác xã.
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm 3 phương pháp chính:
- Phương pháp điều tra thực tế: Khảo sát thực địa tình hình hạ tầng kỹ thuật, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa thôn, hiện trạng sản xuất tại các xóm trên địa bàn xã.
- Phương pháp thu thập số liệu: Tiếp cận tài liệu thứ cấp từ UBND xã Bình Long, HĐND xã, các phòng ban chuyên môn huyện Hòa An (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), các niên giám thống kê, báo cáo tổng kết và các văn bản chỉ đạo.
- Phương pháp thống kê số liệu: Tổng hợp, phân loại số liệu theo các nhóm tiêu chí kinh tế, văn hóa - xã hội, hạ tầng kỹ thuật và môi trường; đối chiếu, so sánh số liệu thực tế qua các năm (2015, 2016, 2017) với các chỉ tiêu định lượng trong Bộ tiêu chí quốc gia và tiêu chí của tỉnh Cao Bằng.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; xác định 3 mục tiêu cụ thể, các yêu cầu kỹ thuật về số liệu, phạm vi và ý nghĩa của việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý tài nguyên đối với thực tiễn cơ sở.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới:
- Lý luận: Phân tích các khái niệm nông thôn, phát triển nông thôn, 5 đặc trưng của nông thôn mới; các điều kiện cần có về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, con người và môi trường; phân định căn cứ xác định chỉ tiêu NTM ở 4 cấp (tỉnh, huyện, xã, thôn bản) và cấu trúc 5 nhóm tiêu chí theo Quyết định 491/QĐ-TTg.
- Kinh nghiệm quốc tế: Trích dẫn phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc (khởi xướng năm 1970 với nguyên tắc tự lực, nhà nước giảm dần hỗ trợ); phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại tỉnh Oita, Nhật Bản (từ năm 1979 do Morihiko Hiramatsu khởi xướng, xây dựng 329 sản phẩm đặc sản); kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, hệ thống thủy lợi và bảo hiểm nông nghiệp tại Thái Lan.
- Kinh nghiệm trong nước: Nêu kết quả sơ kết toàn quốc giai đoạn 2010 – 2014 (185 xã đạt chuẩn NTM); kinh nghiệm huy động nhân dân hiến đất làm hạ tầng tại Quảng Ninh; bài học về công tác tuyên truyền và tháo gỡ tư tưởng trông chờ ỷ lại tại Tuyên Quang; mô hình xây dựng khu dân cư kiểu mẫu và phương châm "nâng đầu, đỡ cuối" tại Hà Tĩnh. Từ đó, tác giả đúc kết 5 bài học về công tác tuyên truyền, trách nhiệm lãnh đạo, phương châm "dễ làm trước khó làm sau" và nguyên tắc "lấy sức dân để lo cho dân".
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết không gian nghiên cứu tại xã Bình Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; khung thời gian khảo sát thực địa từ 07/09/2017 đến 27/11/2017. Xác định 3 nội dung nghiên cứu trọng tâm (điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; đánh giá thực trạng 19 tiêu chí NTM giai đoạn 2015 – 2017; đề xuất giải pháp) và mô tả quy trình thực hiện các phương pháp điều tra thực tế, thu thập số liệu hành chính và thống kê xử lý số liệu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung phản ánh các số liệu thực tế của địa bàn nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Xã Bình Long nằm cách trung tâm huyện Hòa An 2 km về phía Tây, cách thành phố Cao Bằng 18 km về phía Bắc (tọa độ 22º42' đến 22º45' vĩ độ Bắc). Tổng diện tích tự nhiên là 1.746,61 ha, phân chia thành 2 tiểu vùng sinh thái (đồi dốc cao và đồi thoải). Khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao với nhiệt độ trung bình năm 20,2ºC, lượng mưa trung bình từ 1.252,4 mm đến 2.034,7 mm. Diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm 1.152,06 ha.
- Biến động đất đai (2015 – 2017): Đất nông nghiệp giảm từ 1.584,45 ha (90,72%) năm 2015 xuống 1.563,49 ha (89,51%) năm 2017, giảm 20,96 ha do chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp. Đất phi nông nghiệp tăng từ 137,46 ha (7,87%) lên 160,80 ha (9,21%), tăng 23,34 ha (trong đó đất ở khu dân cư tăng từ 27,82 ha lên 35,43 ha). Đất chưa sử dụng giảm từ 24,70 ha xuống 22,32 ha.
- Cơ cấu kinh tế: Tổng giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 38,32 tỷ đồng (2015) lên 41,63 tỷ đồng (2016) và đạt 43,42 tỷ đồng (2017). Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 78,78% (2015) xuống 70,94% (2017); tiểu thủ công nghiệp - xây dựng tăng từ 7,65% lên 10,78%; thương mại - dịch vụ tăng từ 13,57% lên 18,29%.
- Dân số, dân tộc và lao động: Năm 2017, dân số toàn xã là 3.405 người với 860 hộ (tốc độ tăng bình quân 1,5%/năm). Thành phần dân tộc gồm: dân tộc Tày chiếm 64,8% (2.208 người), dân tộc Nùng chiếm 27,5% (936 người), dân tộc Kinh và các dân tộc khác chiếm 7,7% (261 người). Tổng số lao động là 2.162 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 85,4% (1.847 người, gồm 943 nữ và 904 nam), lao động phi nông nghiệp chiếm 424 người.
- Đánh giá thực hiện các tiêu chí nông thôn mới: Đến tháng 4/2017, xã đạt 12/19 tiêu chí theo Quyết định số 800/QĐ-TTg. Từ tháng 5/2017, khi rà soát lại theo Quyết định số 618/QĐ-UBND của UBND tỉnh Cao Bằng, xã chỉ còn đạt 10/19 tiêu chí. Tác giả phân tích chi tiết từng tiêu chí:
- Hạ tầng kỹ thuật: Tiêu chí Giao thông chưa đạt (tỉnh lộ 204 qua xã dài 7 km đạt chuẩn 3 km; trục xã cứng hóa 4,2/11,2 km; ngõ xóm đạt chuẩn 13,7/26,7 km, đạt 51%; trục chính nội đồng 5 km chưa cứng hóa được 10%; có 3 cầu treo). Tiêu chí Thủy lợi đạt chuẩn (diện tích tưới chủ động tăng từ 269,9 ha năm 2015 lên 293,5 ha năm 2017, đạt tỷ lệ 86%/337,4 ha diện tích cần tưới). Tiêu chí Điện đạt chuẩn (có 6 trạm biến áp, công suất 336,5 KVA, 8,45 km đường hạ thế, 100% hộ dân dùng điện lưới). Tiêu chí Trường học chưa đạt (mới đạt 70%, trường THCS và Mầm non đạt chuẩn, trường Tiểu học chưa đạt chuẩn do thiếu nhà hiệu bộ và thư viện). Tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa chưa đạt (chưa có nhà văn hóa và sân thể thao xã; cấp xóm có 6/16 thôn có nhà văn hóa đạt chuẩn). Tiêu chí Chợ nông thôn đạt chuẩn (đầu tư năm 2016). Tiêu chí Thông tin và truyền thông đạt chuẩn (bưu chính 80 m2, internet công cộng, 16/16 xóm có loa truyền thanh, 02 tài khoản quản lý văn bản điều hành). Tiêu chí Nhà ở dân cư chưa đạt (năm 2017 có 18,8% nhà kiên cố, 41,4% nhà bán kiên cố, nhà tạm còn 39,8%, nhà sàn truyền thống chưa đáp ứng tiêu chuẩn "3 cứng").
- Kinh tế và sản xuất: Tiêu chí Thu nhập chưa đạt (năm 2017 đạt 22 triệu đồng/người/năm, tăng từ 18 triệu đồng năm 2015). Tiêu chí Hộ nghèo chưa đạt (năm 2017 còn 165/860 hộ nghèo, tỷ lệ 19,2%, trong khi ngưỡng chuẩn là ≤ 12%). Tiêu chí Lao động có việc làm đạt chuẩn (2.162 lao động có việc làm, chiếm 90% dân số trong độ tuổi lao động). Tiêu chí Hình thức tổ chức sản xuất đạt chuẩn (có 02 Hợp tác xã hoạt động theo Luật HTX 2012 đạt loại Khá theo Thông tư 09/TT-BNNPTNT; có 02 Tổ hợp tác thời vụ nhưng hoạt động không hiệu quả).
- Văn hóa - xã hội: Tiêu chí Giáo dục đạt chuẩn (phổ cập mầm non 5 tuổi, xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và THCS đạt 100%; tỷ lệ tốt nghiệp THCS học lên trung học đạt 100%; 48/48 giáo viên đạt chuẩn 100%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 28,6% tương đương 160 người).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả đạt được, chỉ ra các nút thắt về nguồn vốn và nhận thức của người dân; kiến nghị các giải pháp trọng tâm nhằm hướng tới mục tiêu đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020 theo Nghị quyết của Đảng ủy và HĐND xã Bình Long.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Long tính đến cuối năm 2017. Bảng tổng hợp dưới đây phản ánh tình trạng các tiêu chí được phân tích chi tiết trong văn bản:
| Nhóm tiêu chí |
Tên tiêu chí đánh giá |
Hiện trạng số liệu tại xã Bình Long (năm 2017) |
Đánh giá theo QĐ 618/QĐ-UBND |
| Hạ tầng KT-XH |
Tiêu chí 2: Giao thông |
Tỉnh lộ 204 đạt 42,9% (3/7 km); trục xã cứng hóa 4,2/11,2 km; ngõ xóm đạt chuẩn 51% (13,7/26,7 km); nội đồng chưa cứng hóa đạt 10%. |
Chưa Đạt |
|
Tiêu chí 3: Thủy lợi |
Diện tích tưới chủ động đạt 293,5 ha / 337,4 ha diện tích canh tác (tỷ lệ 86%). |
Đạt |
|
Tiêu chí 4: Điện |
6 trạm biến áp, 8,45 km hạ thế, 100% hộ dân (860/860) và 16/16 xóm dùng điện lưới quốc gia. |
Đạt |
|
Tiêu chí 5: Trường học |
Đạt 70%; trường THCS và Mầm non đạt chuẩn; trường Tiểu học thiếu nhà hiệu bộ và thư viện. |
Chưa Đạt |
|
Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa |
Chưa có nhà văn hóa và khu thể thao xã; 6/16 thôn có nhà văn hóa đạt chuẩn. |
Chưa Đạt |
|
Tiêu chí 7: Cơ sở hạ tầng thương mại |
Chợ xã đã được đầu tư xây dựng năm 2016. |
Đạt |
|
Tiêu chí 8: Thông tin và truyền thông |
Điểm bưu chính 80 m2; 2 điểm internet công cộng; 16/16 thôn có loa; 02 tài khoản quản lý văn bản. |
Đạt |
|
Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư |
Nhà kiên cố: 18,8% (162 hộ); bán kiên cố: 41,4% (356 hộ); nhà tạm: 39,8% (333 hộ); không còn hộ không có nhà. |
Chưa Đạt |
| Kinh tế - Sản xuất |
Tiêu chí 10: Thu nhập |
Đạt 22 triệu đồng/người/năm (tăng 22% so với mức 18 triệu đồng năm 2015). |
Chưa Đạt |
|
Tiêu chí 11: Hộ nghèo |
Tỷ lệ hộ nghèo là 19,2% (165/860 hộ); điều kiện chuẩn quy định ≤ 12%. |
Chưa Đạt |
|
Tiêu chí 12: Lao động có việc làm |
Đạt 2.162 người, tương đương 90% lực lượng lao động trong độ tuổi. |
Đạt |
|
Tiêu chí 13: Hình thức tổ chức sản xuất |
Có 02 Hợp tác xã đạt loại Khá theo Thông tư 09/TT-BNNPTNT; 02 Tổ hợp tác hoạt động không hiệu quả. |
Đạt |
| Văn hóa - Xã hội |
Tiêu chí 14: Giáo dục |
Phổ cập các cấp đạt 100%; học sinh lên lớp thẳng đạt 100%; 48/48 giáo viên đạt chuẩn; LĐ qua đào tạo đạt 28,6%. |
Đạt |
Các giải pháp và định hướng do tác giả đề xuất:
- Về công tác chỉ đạo và điều hành: Tiếp tục đưa mục tiêu xây dựng NTM vào Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND; phân công cụ thể cán bộ công chức phụ trách từng tiêu chí theo nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ tiến độ hoàn thành.
- Về huy động nguồn lực và phát huy vai trò người dân: Tăng cường công tác tuyên truyền nhằm xóa bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại vào ngân sách cấp trên; vận động nhân dân hiến đất, góp công lao động làm đường giao thông ngõ xóm và nội đồng theo phương châm "nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ".
- Về phát triển kinh tế và sản xuất: Khuyến khích chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi sang các loại giống có giá trị kinh tế cao (như cây thuốc lá, hoa màu ngắn ngày); củng cố năng lực điều hành của 02 Hợp tác xã nông nghiệp hiện có; tăng cường đào tạo nghề phi nông nghiệp nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 28,6% lên cao hơn.
- Về hạ tầng và nhà ở: Lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia của huyện Hòa An để đầu tư kiên cố hóa trường Tiểu học, xây dựng nhà văn hóa xã và 10 nhà văn hóa xóm còn thiếu; hỗ trợ người dân cải tạo nhà ở tạm, từng bước đạt tiêu chuẩn "3 cứng" nhưng vẫn bảo tồn nét kiến trúc nhà sàn truyền thống của đồng bào miền núi.
Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc phản ánh trung thực biến động số liệu thực tế tại thời điểm giao thời giữa hai giai đoạn chính sách: từ bộ tiêu chí giai đoạn 2010 – 2015 (Quyết định 800/QĐ-TTg) sang bộ tiêu chí giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định 1980/QĐ-TTg và Quyết định 618/QĐ-UBND tỉnh Cao Bằng). Nghiên cứu chỉ ra việc nâng chuẩn chỉ tiêu đã làm bộc lộ rõ các điểm nghẽn thực chất về hạ tầng giao thông nội đồng, cơ sở vật chất văn hóa, tỷ lệ hộ nghèo và chuẩn hóa nhà ở tại một xã thuần nông miền núi phía Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế do đặc thù thời gian và dữ liệu thực tế tại địa phương:
- Thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ 07/09/2017 đến 27/11/2017), dữ liệu chủ yếu khai thác từ báo cáo hành chính thứ cấp của UBND xã Bình Long và các phòng ban huyện Hòa An; chưa triển khai được phương pháp điều tra chọn mẫu hộ gia đình ngẫu nhiên bằng phiếu bảng hỏi để đo lường mức độ hài lòng hoặc sự tham gia đóng góp cụ thể của người dân.
- Văn bản khảo sát dừng lại ở đánh giá chi tiết các tiêu chí hạ tầng, kinh tế, giáo dục và bắt đầu tiêu chí y tế; các nhóm số liệu về môi trường (tiêu chí 17), hệ thống chính trị (tiêu chí 18) và quốc phòng an ninh (tiêu chí 19) chưa được thể hiện đầy đủ các bảng chỉ số định lượng chi tiết trong bản thảo.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục theo dõi tiến độ thực hiện các tiêu chí chưa đạt (đặc biệt là tiêu chí 2 về đường nội đồng, tiêu chí 6 về cơ sở văn hóa, tiêu chí 9 về nhà ở, tiêu chí 10 về thu nhập và tiêu chí 11 về giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 12%) theo lộ trình cán đích nông thôn mới năm 2020 của xã Bình Long.
- Mở rộng nghiên cứu sâu về hiệu quả kinh tế của các mô hình liên kết sản xuất giữa hộ nông dân với 02 Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn; đánh giá cụ thể tác động của việc dồn điền đổi thửa và chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đối với sinh kế bền vững của đồng bào dân tộc Tày, Nùng.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Quản lý đất đai, Địa chính môi trường, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng khung đánh giá tiêu chí nông thôn mới cấp xã.
- Cán bộ địa chính, cán bộ chuyên trách nông thôn mới tại các xã, phòng ban chuyên môn cấp huyện thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng với xã Bình Long (huyện Hòa An, Cao Bằng).
Phần nội dung đáng tham khảo nhất trong khóa luận là hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết phản ánh biến động diện tích đất đai 3 năm (Bảng 4.1), cơ cấu kinh tế (Bảng 4.2), dân số và lao động theo giới tính (Bảng 4.3), thành phần dân tộc (Bảng 4.4), kiểm kê chi tiết hiện trạng từng tuyến đường giao thông (Bảng 4.5), hiện trạng các trạm biến áp (Bảng 4.7), cơ sở trường lớp (Bảng 4.8) và bảng rà soát chi tiết hiện trạng nhà văn hóa của toàn bộ 16 xóm trên địa bàn xã (Bảng 4.9).
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao số tiêu chí nông thôn mới đạt chuẩn của xã Bình Long lại giảm từ 12 tiêu chí xuống còn 10 tiêu chí trong năm 2017?
Đến hết tháng 4/2017, xã Bình Long được đánh giá đạt 12/19 tiêu chí theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010. Tuy nhiên, từ tháng 5/2017, địa phương thực hiện rà soát theo Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 05/05/2017 của UBND tỉnh Cao Bằng (cụ thể hóa Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 với 19 tiêu chí và 49 chỉ tiêu nâng cao). Bộ tiêu chí mới có yêu cầu khắt khe hơn về các chỉ tiêu thành phần, dẫn đến việc xã bị giảm 2 tiêu chí đã đạt trước đó.
2. Thực trạng tiêu chí Nhà ở dân cư (Tiêu chí số 9) tại xã Bình Long ra sao và tại sao chưa được công nhận đạt chuẩn?
Năm 2017, toàn xã có 860 hộ dân, trong đó nhà kiên cố có 162 hộ (18,8%), nhà bán kiên cố có 356 hộ (41,4%), nhà tạm còn tới 333 hộ (chiếm 39,8%) và không còn hộ không có nhà ở. Tiêu chí này chưa đạt chuẩn do tỷ lệ nhà tạm còn cao, đồng thời nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong nhà sàn truyền thống chưa đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật "3 cứng" (nền cứng, khung cứng, mái cứng) theo quy định của Bộ tiêu chí.
3. Cơ cấu kinh tế và tổng giá trị sản xuất của xã Bình Long chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 2015 – 2017?
Tổng giá trị sản xuất của xã tăng liên tục qua 3 năm: từ 38,32 tỷ đồng (2015) lên 41,63 tỷ đồng (2016) và 43,42 tỷ đồng (2017). Trong đó, cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển: ngành nông nghiệp giảm tỷ trọng từ 78,78% (2015) xuống 73,19% (2016) và còn 70,94% (2017); ngành tiểu thủ công nghiệp - xây dựng tăng từ 7,65% lên 10,78%; ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 13,57% lên 18,29%.
4. Khoảng cách giữa thực tế tại xã Bình Long và quy định chuẩn ở hai tiêu chí Thu nhập (Tiêu chí 10) và Hộ nghèo (Tiêu chí 11) là bao nhiêu?
- Về thu nhập: Năm 2015 đạt 18 triệu đồng/người/năm, đến năm 2017 đạt 22 triệu đồng/người/năm (tăng 22%), nhưng vẫn chưa đạt mức thu nhập quy định theo bộ tiêu chí mới của tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016 – 2020.
- Về hộ nghèo: Năm 2015 xã có 202/840 hộ nghèo (24%), đến năm 2017 giảm còn 165/860 hộ nghèo (19,2%). Mặc dù đã giảm 4,8% nhưng tỷ lệ 19,2% vẫn cao hơn nhiều so với ngưỡng chuẩn quy định (phải ≤ 12%). Các hộ nghèo 100% làm nông nghiệp và nguyên nhân chủ yếu là thiếu đất và kinh nghiệm sản xuất.
5. Cơ sở vật chất văn hóa cấp thôn (Tiêu chí số 6) tại xã Bình Long biến động như thế nào qua 3 năm?
Năm 2015, toàn xã chỉ có 3/16 thôn có nhà văn hóa đạt chuẩn (Pác Gậy, Lủng Chung, Khuổi Luông), các nhà văn hóa còn lại đều nhỏ hẹp, thiếu khuôn viên và xuống cấp. Đến năm 2017, nhờ nguồn vốn Chương trình MTQG của huyện Hòa An, xã có thêm 4 thôn được đầu tư xây kiên cố đạt chuẩn (Thái Cường, Bản Séng, Nà Giảo, Đức Bình), nâng tổng số thôn đạt chuẩn lên 6/16 thôn (trong đó nhà văn hóa thôn Pác Gậy bị đánh giá xuống cấp, không còn đạt). Tiêu chí này vẫn chưa đạt do xã chưa có nhà văn hóa và khu thể thao trung tâm, đồng thời còn 10/16 thôn chưa đạt chuẩn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thị Hồng Hạnh đã phản ánh khách quan và chi tiết tiến trình thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 – 2017. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế và đối chiếu hệ thống văn bản pháp lý, công trình chỉ rõ những thành tựu đạt được về thủy lợi, điện lực, thông tin truyền thông và giáo dục, đồng thời làm nổi bật các nút thắt lớn tại địa phương miền núi về giao thông nội đồng, cơ sở văn hóa, nhà ở và giảm nghèo. Công trình cung cấp hệ thống số liệu cơ sở tin cậy phục vụ công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch sử dụng đất và xây dựng kế hoạch hành động nông thôn mới cho địa phương trong giai đoạn tiếp theo.