Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp thương mại Chương 3: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2. Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản 2. Khái niệm lao động Theo quan điểm của C.Mác: Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết phục vụ cho đời sống của con người.
Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con con người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa xã hội. Người lao động có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế đất nước. Ngoài ra trong tài liệu “Kinh tế doanh nghiệp thương mại” của Đại học Thương Mại do PGS.
Phạm Công Đoàn và TS. Nguyễn Cảnh Lịch đồng chủ biên có đưa ra quan điểm về lao động thương mại: Lao động thương mại là bộ phận cần thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa. Bao gồm lao động thực hiện quá trình mua bán, vận chuyển, đóng gói, chọn lọc, bảo quản và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích lao động của họ là đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng.
Lao động thương mại nói chung và các lao động trong các doanh nghiệp thương mại nói riêng tồn tại như một tất yếu khách quan cùng với sự tồn tại của sản xuất, lưu thông hàng hóa và thương mại, đó là sự phân công lao động trong xã hội quyết định. Khái niệm về hiệu quả Theo giáo trình “Kinh tế Doanh nghiệp thương mại” của trường Đại học Thương Mại do PGS. Phạm Công Đoàn cùng TS.Nguyễn Cảnh Lịch thì hiệu quả được hiểu là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã xác định trước với chi phí bỏ ra để đạt được mục tiêu đó. Để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt được mục tiêu đặt ra thì doanh nghiệp phải có các mục tiêu hành động cụ thể trong từng thời kỳ và phải luôn tìm cách để đạt được các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất và đạt hiệu quả cao nhất.
Hiệu quả của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: Đó là hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiệu quả xã hội là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu của xã hội của doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được của doanh nghiệp đến xã hội và môi trường. Hiệu quả này thường được biểu hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho người lao động cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động kinh doanh.
Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Thực chất của hiệu quả kinh tế là để thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, nó biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đã xác định. Chúng ta có thể khái quát mối tương quan giữa lợi ích kinh tế và chi phí bỏ ra để có được lợi ích đó bằng hai công thức sau: + Một là: Hiệu quả là số hiệu giữa kết quả và chi phí. HQ= KQ – CP (1) Trong đó: HQ là hiệu quả đạt được trong một thời gian nhất định.
KQ là kết quả đạt được trong thời kỳ đó. CP là chi phí bỏ ra để đạt được kết quá đó. Đây là hiệu quả tuyệt đối, mục đích so sánh ở đây là để thấy được mức chênh lệch giữa kết quả và chi phí, mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Ưu điểm: Cách so sánh này đơn giản và dễ tính toán.
Nhược điểm: Không cho phép đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không có khả năng so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ, giữa các doanh nghiệp với nhau, không phản ánh được năng lực tiềm tàng để nâng cao hiệu quả. Dễ đồng nhất hai phạm trù hiệu quả và kết quả. + Hai là: Hiệu quả là tỷ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó (đây là hiệu quả tương đối). KQ HQ= (2) CP Ưu điểm: Khắc phục được nhược điểm của công thức (1) và cho phép phản ánh hiệu quả ở mọi góc độ khác nhau.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhược điểm: Cách đánh giá này khá phức tạp, đòi hỏi phải có quan điểm thống nhất khi lựa chọn phương pháp này. Có thể nói hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ hữu cơ với nhau, là hai mặt của một vấn đề. Bởi vậy khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như khi đánh giá hiệu quả của các hoạt động này cần xem xét hai phương pháp trên một cách đồng bộ. Không thể không có hiệu quả kinh tế mà cũng không có hiệu quả xã hội, ngược lại hiệu quả kinh tế là cơ sở, là nền tảng của hiệu quả xã hội.
Khái niệm về hiệu quả sử dụng lao động Sử dụng lao động là quá trình vận dụng sức lao động để tạo ra các sản phẩm theo các mục tiêu sản xuất kinh doanh. Làm thế nào để sử dụng lao động có hiệu quả là câu hỏi thường trực của những nhà quản lý và sử dụng lao động. Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng lao động. Theo quan điểm của Mac-Lenin, hiệu quả sử dụng lao động là sự so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra một số lao động ít hơn để đạt được kết quả nhiều hơn.Mác chỉ rõ, bất kỳ một phương thức sản xuất liên hiệp nào cũng cần phải có hiệu quả, đó là nguyên tắc của liên hiệp sản xuất.
Mác viết: “Lao động có hiệu quả nó cần có một phương thức sản xuất và nhấn mạnh rằng hiệu quả lao động giữ vai trò quyết định, phát triển sản xuất là để giảm chi phí của con người, tất cả các tiến bộ khoa học đều nhằm đạt được mục tiêu đó”. Theo quan điểm của F.Taylor thì “Con người là một công cụ lao động”. Quan điểm này cho rằng, về bản chất con người đa số không làm việc, họ quan tâm nhiều đến cái họ kiếm được chứ không phải công việc mà họ làm, ít người muốn và làm được những công việc đòi hỏi tính sáng tạo, độc lập, tự kiểm soát. Vì thế để sử dụng lao động một cách có hiệu quả thì phải đánh giá chính xác thực trạng lao động tại doanh nghiệp mình, phải giám sát và kiểm tra chặt chẽ những người giúp việc, phải phân chia công việc ra từng bộ phận đơn giản lặp đi lặp lại, dễ dàng học được.
Theo quan điểm của Nayo cho rằng “Con người muốn được cư xử như con người”. Theo ông về bản chất con người là một thành viên trong tập thể, vị trí và thành tựu của tập thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với họ hơn là lợi ích cá nhân, họ hành động tình cảm hơn là lý trí, họ muốn cảm thấy có ích và quan trọng, muốn tham gia vào công việc chung và nhìn nhận như một con người. Vì vậy muốn khuyến khích 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao động, con người làm việc cần thấy nhu cầu của họ quan trọng hơn tiền. Chính vì vậy, người sử dụng lao động phải làm sao để người lao động luôn luôn cảm thấy mình quan trọng và có ích.
Tức là phải tạo ra bầu không khí tốt hơn, dân chủ hơn và lắng nghe ý kiến của họ. Theo quan điểm “Con người là tiềm năng cần được khai thác và làm cho phát triển” thì bản chất con người là không phải không muốn làm việc. Họ muốn góp phần thực hiện các mục tiêu, họ có năng lực độc lập sáng tạo. Chính sách quản lý phải động viê khuyến khích con người đem hết sức của họ vào công việc chung, mở rộng quyền độc lập và tự kiểm soát của họ sẽ có lợi cho việc khai thức các tiềm năng quan trọng.
Từ các tiếp cận trên ta có thể hiểu về hiệu quả sử dụng như sau: + Theo nghĩa hẹp: Hiệu quả sử dụng lao động là kết quả mang lại từ các mô hình, các chính sách quản lý và sử dụng lao động. Kết quả lao động đạt được là doanh thu lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được từ kinh doanh và việc tổ chức, quản lý lao động, có thể là khả năng tạo việc làm của mỗi doanh nghiệp. + Theo nghĩa rộng: Hiệu quả sử dụng lao động còn bao hàm thêm khả năng sử dụng lao động đúng ngành, đúng nghề, đảm bảo sức khỏe, đảm bảo an toàn cho người lao động, là mức độ chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật lao động, khả năng cải tiến kỹ thuật ở mỗi người lao động, đó là khả năng đảm bảo công bằng cho người lao động. Nội dung hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp thương mại 2.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động Hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp thương mại được đánh giá qua một hệ thông các chỉ tiêu nhất định. Những chỉ tiêu này bị lệ thuộc bởi các mục tiêu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Bởi vậy, khi phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng lao động phải căn cứ vào mục tiêu của doanh nghiệp và của người lao động. Mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra cho mình luôn thay đổi theo thời gian, đồng thời cũng thay đổi cách nhìn nhận và quan điểm đánh giá hiệu quả.
Nhưng nhìn chung tất cả các mục tiêu đều nhằm đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp.