mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. [46] cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 – 2000 loài.
Các nhà sinh vật học Nga tập trung các nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Việc xác định diện tích gồm những giai đoạn sau: 5 1. Kiểm kê số loài trên một diện tích hạn chế nhất định. Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ tăng số lượng loài 3.
Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu 1. Ở Việt Nam Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam trước hết phải kể đến các công trình: “Thực vật chí Nam bộ” của Leureiro [41]; Thực vật chí rừng nam bộ của các tác giả Pierre L. Một trong công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp Lecomte et al. [40], kết quả của nghiên cứu này là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong kết quả nghiên cứu này theo Lecomte thì vùng Đông Dương có hơn 7000 loài.
Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn với các nhà thực vật học; hiện nay bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Tiếp theo đó là bổ sung của Humbert H. [38], đến nay là thực vật chí Lào, Campuchia và Việt Nam đã xuất bản từ 1960 và ở ta đã có đến tập 26. Sau này, Pocs T.
(1965) tuy không nghiên cứu hệ thực vật miền Bắc, nhưng dựa trên bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” đã thống kê 5190 loài. Đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này [42]. trong công trình nghiên cứu về ngành rêu (Bryophyta) đã công bố 556 loài rêu ở Việt Nam, trong đó miền Bắc có 198 loài [42]. Đây là công trình khá tổng quát công bố về ngành rêu ở Việt Nam.
Như vậy từ đầu thế kỷ đến khoảng giữa thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về hệ thực vật có giá trị ở Việt Nam đều do các tác giả người nước ngoài nghiên cứu. Các công trình cũng mới chỉ dừng lại ở thống kê số lượng loài có trong một vùng diện tích lớn như miền Bắc Việt Nam (198.000 km2), Việt Nam có diện tích trên 330.000 km2 hoặc Đông Dương với diện tích khoảng 737 800km2 và rất ít chú ý đến các khía cạnh khác. Như những nghiên cứu về thảm thực vật rừng 6 Việt Nam phải kể đến hai công trình có giá trị là: “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963 – 1978). Tác giả tổng hợp các công trình đã có trước đây cùng với các nghiên cứu của mình công bố 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt Nam.
Thái Văn Trừng [31] đã khẳng định ưu thế của các ngành Hạt kín (Magnoliophyta) trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (90,9%), 1727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%) trong tổng số các Taxon mỗi bậc. Các ngành thực vật khác nhìn chung chiếm một tỷ lệ không nhiều trong hệ thực vật. Công trình nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương [24] đã tiến hành phân loại rừng miền Bắc Việt Nam. Trong đó rừng miền Bắc được chia làm 3 đai, 8 kiểu; ngoài ra ông còn chia ra thành những kiểu phụ mà chỉ dùng loại hình thay cho kiểu, sau loại hình kiểu phụ.
Cùng với những công trình nghiên cứu tại miền Bắc, trong thời gian này Phạm Hoàng Hộ [15] cũng cho ra bộ sách “Cây cỏ Nam Việt Nam” công bố với 5326 loài thực vật có ở miền Nam nước ta. Trong đó thực vật bậc thấp có 60 loài, rêu 20 loài, còn lại là thực vật có mạch 5246 loài. Đây là một công trình tổng hợp về hệ thực vật miền Nam, nhưng số loài các ngành công bố ở trên theo chúng tôi còn thiếu. Phan Kế Lộc [22] ở miền Bắc đã cung cấp số loài cây của các ngành thực vật bậc cao có mạch trong công trình “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam”.
Trong tác phẩm này Phan Kế Lộc đã thống kê được 5609 loài, còn các ngành khác chỉ có 540 loài. Con số này theo bản thân tôi là khá đầy đủ. Qua những tác phẩm kể trên chúng ta có thể nhận thấy rằng chỉ trong vòng 7 năm từ năm 1966 đến 1973 đã có 4 công trình có giá trị cao về hệ thực vật Việt Nam do các tác giả trong nước nghiên cứu. Tổng hợp các công trình này chúng ta có số liệu khá đầy đủ về các hệ thực vật ở nước ta.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ chủ yếu thống kê số lượng các Taxon có trong hệ thực vật mà ít chú ý so sánh chúng với nhau hoặc chú ý vào các khía cạnh khác như tài nguyên, dạng sống… 7 mặt khác các công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến ngành rêu, trừ nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Hộ, 1970. Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể các tác giả khác đã xuất bản tập “Danh lục thực vật Tây Nguyên” công bố 3754 loài thực vật bậc cao có mạch bằng một nửa số loài của hệ thực vật Việt Nam. Công trình này khảo sát bao quát cả một hệ thực vật rừng phong phú vào bậc nhất nước ta nên rất có ý nghĩa [6]. Đi theo hướng nghiên cứu các hệ thực vật ở từng vùng, Phạm Hoang Hộ (1985 ) đã xuất bản ra cuốn sách “Danh lục thực vật Phú Quốc”.
Công bố 793 loài thực vật cao có mạch trong một diện tích là 592 km2 [17]. Đối với ngành rêu (Bryophyta) từ trước dến nay, trong các công trình chung về hệ thực vật bậc cao thường ít được xếp vào thành phần mà được nghiên cứu riêng. Công trình nghiên cứu quy mô và tổng quát nhất là của Pocs T. [43], sau đó các nghiên cứu này thường không tập trung cho đến năm 1980 Trần Ninh với công trình nghiên cứu “Rêu của Việt Nam” đã thống kê công bố 170 loài rêu của Việt Nam.
Nếu thống kê số loài, chi, họ ở miền Bắc thường theo con số của tác giả Phan Kế Lộc cộng thêm ngành rêu nữa thì số loài thực vật ở miền Bắc là 5915 loài, số chi là 1746 chi và số họ là 288 họ. Thống kê số loài, chi, họ ở Việt Nam theo con số thống kê của Thái Văn Trừng [32] cộng thêm ngành rêu ở Việt Nam thì số loài ở Việt Nam là 7797 loài, 2032 chi, 349 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao. Gần đây nhất là năm (1991 – 1993) với 3 quyển “Cây cỏ Việt Nam” Phạm Hoàng Hộ đã mô tả 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Tuy vậy Phạm Hoàng Hộ con số đó có thể lên tới 12.
Nhiều nhà thực vật Việt Nam làm việc ở trong nước cũng cho rằng số loài thực vật nước ta có khoảng 12. Nghiên cứu thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu Những năm gần đây, cùng với các công trình nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong nước thì ở Nà Hẩu cũng đã quan tâm hơn đến vấn đề nghiên cứu đa dạng 8 sinh học và đa dạng thực vật. Hiện nay, tại Nà Hẩu đã có hai công trình nghiên cứu về hệ thực vật. Năm 2005 Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái đã phối hợp với các chuyên gia thực vật của trường Đại học Lâm nghiệp, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật điều tra hệ thực vật tại khu vực 4 xã Nà Hẩu, Phong Dụ Thượng, Đại Sơn, Mỏ Vàng hoàn thành chuyên đề về thực vật tiến đến thành lập Khu Bảo tồn.
Kết quả của đợt điều tra này là một quyển “Báo cáo chuyên đề thực vật” [2] đây là một phần của “Đề án xây dựng Khu Bảo tồn TN Nà Hẩu” [1] trong đợt điều tra này các chuyên gia đã tìm được 516 loài thuộc 332 chi và 126 họ thuộc 5 ngành Cỏ tháp bút, Thông đất, Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín. Năm 2009 Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tiếp tục phối hợp với các chuyên gia về thực vật tại trường Đại học Lâm nghiệp tổ chức đợt điều tra đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật của Khu Bảo tồn nhằm có những ý kiến đề xuất bảo tồn tốt hệ thực vật tại khu vực. Trong đợt điều tra này đã điều tra được 657 loài thuộc 440 chi 154 họ thuộc 5 ngành thực vật Cỏ tháp bút, Thông đất, Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín [3]. Nghiên cứu về thảm thực vật Theo thuật ngữ lâm nghiệp (1966) thì Thảm thực vật (Vegetation) là lớp phủ thực vật trên mặt đất với nhiều quần xã thực vật khác nhau.
Mỗi quần thể thực vật đó có hình dạng, cấu trúc, thành phần, ranh giới trạng mùa, động thái, vùng phân bố v. Còn theo hội nghị Quốc tế ngành sinh học tổ chức lần thứ 6 tại Paris (1954) thì: Thảm thực vật là những tập thể cây cỏ mang lại hình dáng đặc biệt cho phong cảnh do sự tập hợp của các cây cỏ khác loài nhưng cùng chung một dạng ưu thế. Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cỏ cây. Một số nhà nghiên cứu như Negri (Italia), Gleason và Curtis (Hoa Kỳ), Broun (Anh)…cho rằng thảm thực vật bao gồm những tập hợp ngẫy nhiên của cá thể các loài cây; tập hợp này luôn thay đổi và không có ranh giới rõ ràng.
Những nhà bác học theo quan điểm này đã không xem thảm thực vật như là những quần thể riêng biệt mà hợp thành mà phủ nhận sự tồn tại của quần thể. Còn lại phần đông các nhà khoa học 9 như Pavilard (Pháp), Weaver và Clement (Anh), Shoo và Tuen (Hungari), Pavloxki (Ba lan), Sucasep và Lavrenko (Nga)… đều nhất trí cho rằng nghiên cứu cơ bản của thảm thực vật là quần thể thực vật. Nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới hiện nay có nhiều phương pháp phân loại thảm thực vật rừng, mỗi phương pháp đều dựa vào một yếu tố khác nhau và đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng phù hợp với quốc gia đã sinh ra trường phái này.