Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. QUAN ĐIỂM ĐA DẠNG SINH HỌC Ngày nay, yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), tài nguyên thiên nhiên và môi trường là một vấn đề hàng đầu ĐDSH không những có giá trị về mặt môi trường sinh thái mà còn có giá trị về Văn hoá, Giáo dục, Thẩm mỹ…. Chính vì vậy mà công ước về bảo tồn ĐDSH đã được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Braxin, 1992) [8], đây là mốc đánh giá sự cam kết của các quốc gia trên toàn thế giới về bảo tồn ĐDSH, đảm bảo việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên sinh vật. Do mới được quan tâm nên ĐDSH vẫn là khái niệm còn mới và nghĩa của nó còn khá rộng nên được nhiều tập thể tác giả đề cập đến.
Trong Công ước Quốc tế về bảo tồn ĐDSH đã định nghĩa: “ĐDSH là tính khác biệt, muôn hình muôn vẻ về câu trúc, chức năng và các đặc tính khác giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn bao gồm hệ sinh thái trên đất liền và các hệ sinh thái dưới nước”. Theo Qũy Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF, 1990) [14], khái niệm ĐDSH như sau: ĐDSH là sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong một môi trường. Như vậy, ĐDSH được xem xét ở cả 3 mức độ: ĐDSH ở cấp độ loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. Ở mức độ cao hơn, ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể.
ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, giữa các hệ sinh 5 thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại, và cả sự khác biệt của các môi trường sống tương tác giữa chúng với nhau. Bên cạnh đó ĐDSH còn được định nghĩa như sau: ĐDSH là tập hợp tất cả các nguồn sống trên hành tinh chúng ta, bao gồm tổng số các loài động, thực vật, tính đa dạng phong phú trong từng loài, tính đa dạng của các hệ sinh thái trong các cộng đồng sinh thái khác nhau hay là tập hợp của các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau (kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam ngày 16 tháng 2 năm 2010). Trong định nghĩa đã đề cập đến mức độ đa dạng ở mức độ loài và hệ sinh thái, nhưng chưa đề cập đến mức đa dạng gen (đa dạng di truyền). Năm 1993, Viện Tài nguyên gen và Thực vật Quốc tế ( IPJRI ) đã cho ra đời tác phẩm “đa dạng cho sự phát triển” trong đó ĐDSH được hiểu là sự biến dạng của các cơ thể sống và các phức hệ sinh thái mà chúng sống.
Định nghĩa này tuy ngắn gọn, song chưa chính xác và gây cho người đọc khó hiểu. Tiếp đó, Nguyễn Nghĩa Thìn ( 1997 ) trong cuốn “cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” đã đưa ra “ĐDSH là toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất gồm các sinh vật phân cắt đến động, thưc vật ở trên cạn cũng như dưới nước, từ mức độ phân tử AND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài người. Khoa học nghiên cứu về tính đa dạng đó gọi là ĐDSH”. Ở đây, ĐDSH được hiểu theo 3 khía cạnh: - Đa dạng ở mức độ di truyền: Mỗi loài sinh vật và thậm chí trong một cá thể của loài đều có phân tử AND đặc trưng cho loài.
Tính đặc trưng này được thể hiện qua số lượng và trình tự sắp xếp các nucleotit trong phân tử AND, qua hàm lượng trong nhân tế bào và tỷ lệ giữa các cặp bazơ A+T/G+X. Trật tự các nucleotit trong các gen có liên quan đến qui định các tính trạng và các đặc tính cơ thể. Trong quá trình phát triển của sinh vật từ thấp đến cao, hàm lượng AND 6 trong các tế bào cũng được tăng lên. Đó là một sự biểu hiện của đa dạng gen[20].
- Đa dạng mức độ loài: Phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng các loài hoặc số lượng phân loài ( loài phụ ) trên trái đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định. Loài là một nhóm cá thể khác biệt với các nhóm cá thể khác về mặt sinh học và sinh thái. Các cá thể trong loài có vật chất di truyền (giao phôi, giao phấn ) với nhau và các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp). Như vậy, các cá thể trong loài chứa toàn bộ thông tin di truyền của loài.
Vì vậy, tính đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập đến tính ĐDSH. - Đa dạng ở mức độ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu quần xã sinh vật tạo nên. Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật trong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong loài và giữa các loài với nhau. Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi trường vật lý tạo thành một hệ sinh thái.
Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức năng sinh quyển bao gồm các quần xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật, thổ nhưỡng ( đất ) và các yếu tố khí hậu. Các thành phần này liên hệ với nhau thông qua các chu trình vật chất và năng lượng (chu trình sinh địa hoá ). Cao hơn nữa, định nghĩa này đã đề cập đến xã hội loài người đó là đa dạng các loại hình văn hoá dân tộc. Đây là một quan điểm mới được đề cập đến mang tính nhân đạo và sự công bằng xuất phát từ đạo đức, đó chính là câu trả lời cho một phần của câu hỏi vì sao phải bảo tồn ĐDSH.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT 1. Nghiên cứu về đa dạng phân loại 1. Trên thế giới 7 Cho đến nay, vấn đề đa dạng sinh vật và bảo tồn nguồn tài nguyên đã chở thành chiến lược trên toàn thế giới. Đã có nhiều tổ chức quốc tế được ra đời với mục tiêu nhằm hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn cầu như: Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN), Chương trình Môi Trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Tài nguyên Di truyền Quốc tế (IPGRI),… Loài người muốn tồn tại lâu dài trên hành tinh này thì phải xây dựng chiến lược phát triển một cách bền vững.
Bởi nhu cầu cơ bản và sự sống còn của con người phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên tự nhiên của trái đất, nếu những tài nguyên đó bị mất đi hoặc giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu chúng ta sẽ bị đe doạ nghiêm trọng. Chúng ta đã quá lạm dụng tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến các thế hệ tương lai, nên ngày nay loài người sẽ đứng trước những hiểm họa khôn lường. Để tránh sự huỷ hoại các nguồn tài nguyên chúng ta phải tôn trọng quy luật tự nhiên. Tháng 6 năm 1992, hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đa dạng sinh vật được tổ chức tại Rio de Janeiro ( Brazil ) có 150 nước ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng.
Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận chiến lược và kế hoạch hành động để bảo vệ đa dạng sinh học. Cho đến nay đã có nhiều tài liệu được công bố. Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity); IUCN, IUNEP và WWF đã xuất bản cuốn sách về chiến lược bảo tồn thế giới (Wold conservation strategy ). Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới ( conserving the World’s biological diversity ); UICN, UNEP, WWF xuất bản cuốn “Hãy quan tâm tới trái đất” (Caring for the earth).
Cùng năm này, Wri, UCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động; Tất cả các tài liệu đã được xuất bản đều nhằm mục đích hướng 8 dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai[14]. Năm 1992 - 1995 WCMC đã công bố một cuốn sách tổng hợp đánh giá đa dạng sinh học toàn cầu (Global biodiversity assessment) làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu qủa hơn. Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phương pháp luận và thông báo các kết qủa đã đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được nhóm họp tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.
Ở Việt Nam Ngay từ thế kỷ XVIII, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật như các công trình của Loureiro (1790) sang thế kỷ XIV có công trình của Pierre (1879 - 1907) và cho đến những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ Thực vật chí Đại cương Đông Dương do Lecomte chủ biên (1907 - 1952). Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương, con số kiểm kê và được đưa ra là 7004 loài thực vật bậc cao có mạch. Tuy nhiên con số này còn ít xa so với số loài có ở ba nước Đông Dương. Gần đây đáng chú ý nhất là phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [12] xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 - 2000), bộ sách danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (2001 - 2005).
Đây là bộ sách đầy đủ và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam.