chương 1 và chương 2, phương pháp này chia các vấn đề lớn của tham nhũng thành các khái niệm cụ 13 thé như tham nhũng, đặc điểm, tính chat của tham nhũng. Từ đó, phân tích tinh hình tham nhũng vặt, tổng hợp và khái quát các thông tin để xây dựng một hệ tư tưởng, cơ sở lý luận về vấn đề tham nhũng. - Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Từ các bài học kinh nghiệm quốc tế, tác giả tiền hành so sánh sự tương đồng và khác biệt với bối cảnh của Việt Nam. Qua đó, rút ra các kết luận mang tính quy nạp hoặc diễn dịch về các van đề ứng dụng công nghệ số PCTN.
- Phương pháp so sánh: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 3, phương pháp này nhằm tìm kiếm những mô hình, giải pháp, và thực hành tốt về ứng dụng công nghệ số trong PCTN trên bình diện quốc tế. Từ đó, đánh giá sự tương thích và khả năng áp dụng thực tiễn tại Việt Nam, tiếp thu những kinh nghiệm phù hợp nhất. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Kết quả của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng day, cũng như làm cơ sở dé sửa đôi Luật PCTN theo hướng tăng cường ứng dụng CNS. Các giải pháp về việc áp dụng CNS trong PCTN cũng có thé được triển khai ngay tại các cơ quan nhà nước và trong xã hội nói chung nhăm nâng cao hiệu quả của công tác PCTN.
Bố cục luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cầu gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về ứng dụng CNS trong PCTN Chương 2: Kinh nghiệm của một số quốc gia trong ứng dụng CNS trong PCTN. Chương 3: Một số bài học về ứng dụng CNS trong PCTN đối với Việt Nam. 14 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE UNG DUNG CÔNG NGHỆ SO TRONG PHÒNG, CHÓNG THAM NHŨNG 1. Khái niệm tham nhũng và Phòng chống tham nhũng 1.1 Khái niệm về tham nhũng Thuật ngữ “tham nhũng” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “corruptus” mang ý nghĩa lạm dụng, phá hoại hoặc vi phạm.
Theo định nghĩa của Từ điển Oxford, tham nhũng là sự bóp méo hoặc phá hoại tính liêm chính trong công vụ thông qua hối lộ hoặc đối xử thiên vị. Từ điển Merriam-Webster mô tả tham nhũng là sự khuyến khích điều xấu bằng các hành động sai trái hoặc phi pháp. Trong Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng được định nghĩa là việc lợi dụng quyền hành đề tham ô và nhũng nhiễu dân. Như vậy, nhìn chung, tham nhũng là các hành vi trái phép hoặc bat hợp pháp.
Theo “Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)”, tham nhũng không có một định nghĩa thông nhất mà được mô tả khác nhau tùy theo các luật áp dụng ở từng khu vực pháp lý. Các hành động thường được công nhận bao gom "sử dụng sai mục đích quyên lực của các quan chức công quyền hoặc quản lý (được bố nhiệm hoặc được bau) cho lợi ích tư, tài chính hoặc các lợi ích khác". Tham nhũng có thể được phân loại thành "tham nhũng lớn," "tham nhũng nhỏ" và "tham nhũng chính trị," và xuất hiện dưới nhiều hình thức như hối lộ, tống tiền, bổ nhiệm người thân, tham 6, và lừa đảo. Tham những cũng là tiền đề cho tội rửa tiền [35].
Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC) không đưa ra định nghĩa cụ thé về tham nhũng nhưng xác định một tập hợp các hành vi được coi là tham những. Công ước Luật dân sự về chống tham nhũng của Hội đồng Châu Âu năm 1997 định nghĩa tham nhũng là việc đòi hỏi, gợi ý, đưa ra hoặc trực tiếp hay gián tiếp nhận hối lộ hoặc lợi thế bất chính khác, làm anh 15 hưởng đến sự thực hiện đúng đắn nhiệm vụ hoặc công việc của người nhận. - Dưới góc độ pháp lý, theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 của Việt Nam, “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Người có chức vụ quyền hạn không chỉ giới hạn trong khu vực công mà còn cả trong khu vực tư nhân.
Hành vi lam dụng chức vụ, quyền han là hành vi cố ý sử dụng quyên lực dé điều tiết các quan hệ kinh tế - xã hội trong phạm vi quyền lực được giao. Mục tiêu vụ lợi không chỉ giới hạn ở các lợi ích vật chất mà còn bao gồm cả các lợi ích phi vật chất, thu được không thông qua lao động hợp pháp mà từ việc lợi dụng quyên lực dé vi phạm các tiêu chuẩn, quy tac. Ngoài các lợi ích về vật chất, các lợi ích phi vật chất có phạm vi rất rộng, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau mà không thê đo đếm bằng các đại lượng thông thường. Điền hình là các hành vi hối lộ lợi ích phi vật chất như hối lộ tình dục, nịnh bợ, giúp đỡ qua lại trong công việc.
Những lợi ích phi vật chất này có thé chưa gây thiệt hại ngay lập tức nhưng về lâu dài có thé phá hủy các giá trị đạo đức công vụ và liêm chính kinh doanh, làm giảm hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức. Tham nhũng là hiện tượng không ngừng biến đổi và vận động. Các hình thức và thủ đoạn tham nhũng liên tục thay đôi qua các thời kỳ. Tuy nhiên, trong một mối quan hệ xã hội bị tham nhũng, thường có một số đặc điểm chung: - Tham nhũng gắn liền với quyền lực: Ban đầu, tham những chỉ được liên kết với quyền lực công, nhưng hiện nay, tham nhũng trong khu vực tư cũng được luật hóa và xác định rõ các hành vi, thủ đoạn tham nhũng.
- Hành vi trái pháp luật: Tham nhũng bao gồm các hành vi vi phạm các quy định pháp luật, quy chế nội bộ và quy tắc của tổ chức. Nếu tuân thủ đúng các quy định này, không thê thu được lợi ích riêng, dẫn đến hành vi tham nhũng. 16 - Gây thiệt hại xã hội: Tham nhũng luôn gây thiệt hại cho một hoặc nhiều đối tượng hoặc toàn xã hội. Thiệt hại này có thể đo lường hoặc không đo lường được, nhưng luôn là cơ sở dé người tham nhũng thu lợi.
Nguyên nhân của tham nhũng Tham nhũng tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Hệ thống chính sách và pháp luật còn lỗ hồng, thiếu minh bạch, và thay đôi thường xuyên, gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân trong việc tuân thủ. Môi trường kinh doanh thiếu cạnh tranh lành mạnh, chế độ đãi ngộ cho cán bộ, công chức không thỏa đáng, và các phong tục văn hóa dé bi lợi dụng cũng góp phần làm gia tăng tham nhũng. Bên cạnh đó, hệ thống chính trị chưa phân hóa rõ nhiệm vụ và nhận thức của một số cán bộ, công chức về hậu quả của tham nhũng còn yếu kém, dẫn đến hành vi tham nhũng nảy sinh.
Khái niệm về phòng, chống tham nhũng Tham những là một hiện tượng tat yếu của xã hội có sự phân chia giai cấp, có nhà nước; bơi tham nhũng luôn gắn với quyền lực nhà nước; một số người có chức vụ, quyên hạn trong bộ máy nhà nước đã lợi dụng quyền lực nhà nước dé nhằm thu lợi ích bat chính về cho mình, cho gia đình, cho người thân của minh. Tham nhũng gây thiệt hại đến nền kinh tế của đất nước, nó làm suy thoái đạo đức lối sống của không ít cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó hiện tượng tham nhũng còn làm cho bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu quả thậm chí làm mục rỗng cơ cau hoạt động của bộ máy nhà nước đe dọa đến sự tồn vong của đất nước. Chính vì vậy mà cấp thiết Đảng và nhà nước, nhân dân phải có những phương pháp, chương trình nhằm hạn chế, tiến tới tiêu diệt những mầm họa này.
PCTN là tong thé các biện pháp mà một nhà nước áp dụng dé phòng ngừa (phòng), phát hiện, ngăn chặn và xử lý (chống) tham nhũng. Những biện pháp đó có thé là lập pháp (ban hành các văn bản pháp luật đề điều chỉnh những hành 17 vi tham nhũng), hành pháp (thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng), tư pháp (xử lý những hành vi tham nhũng theo luật định), hoặc những biện pháp giáo dục, tuyên truyền dé nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của những chủ thê có liên quan về vấn đề này. PCTN bao gồm hai lĩnh vực hoạt động: Một là, phòng ngừa tham nhũng là hoạt động của các cơ quan, tô chức, đơn vị và cá nhân công dân nhăm làm bớt đi các điều kiện tham nhũng, bao gồm các hoạt động như: Ban hành các văn ban dé điều chỉnh hành vi tham nhũng: tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức; công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan; minh bạch tài sản thu nhận; xây dựng và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn, cải cách hành chính. Hai là, chỗng tham nhũng là hoạt động cơ quan, tô chức, đơn vị và cá nhân công dân trong phát hiện tham nhũng và xử lý tham nhũng, bao gồm các hoạt động như: khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; giám sát, kiểm tra, thanh tra; điều tra, truy tố, xét xử.
Theo đó, PCTN được hiểu là: bao gồm các hoạt động của hệ thống cơ quan Đảng, bộ máy nhà nước, các tô chức chính trị xã hội, các tô chức kinh tế, tổ chức xã hội và toàn thê nhân dân, căn cứ vào đường lối, chủ trương của Dang và pháp luật của Nhà nước dé phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi tham nhũng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tô chức va công dân, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị - xã hội, bảo vệ chê độ và bảo đảm cho kinh tê - xã hội đât nước phát triên bên vững. Khái niệm về công nghệ số Công nghệ số là các công nghệ mới nổi từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đại điện cho bước phát triển cao hơn của công nghệ thông tin. Công nghệ số cho phép tính toán nhanh hơn, xử lý lượng dữ liệu lớn hơn và truyền tải đữ liệu với dung lượng lớn hơn, chỉ phí thấp hơn. Các công nghệ số nồi bật 18 bao gồm trí tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật, dé liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ chuỗi khối [36].
Số hóa là quá trình chuyên đổi dữ liệu từ dang tương tự sang dang số, tức là mã hóa thông tin tương tự thành dữ liệu số dé máy tính có thé lưu trữ, xử lý và truyền dẫn.