CHƯƠNG 1: CONG TAC QUAN LY CHAT THAI NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM 1.1 Tinh hinh phat sinh CTRNH Theo số liệu điều tra thống kê của Cục Môi trường thì tổng lượng CTRNH phát sinh mỗi năm tại 3 khu vực kinh tế trọng điểm khoảng 1 13. Từ bảng thống kê trên cho thấy lượng CTNH phát sinh ở khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam lớn khoảng gấp 3 lần lượng CTNH phát sinh ở khu vực trọng điểm phát triển kinh tế phía Bắc và lớn gấp khoảng 20 lần lượng CTNH phát sinh ở khu vực trọng điểm phát triển kinh tế miền Trung. Nếu tính theo ngành phát sinh CTNH thì tổng lượng CTRNH phát sinh hàng năm trên toàn quốc là khoảng 152. Như vậy, xét về khối lượng, các ngành công nghiệp nhẹ, hoá chất và cơ khí luyện kim là ngành phát sinh nhiều CTNH nhất.
Ngành Điện và Điện tử phát sinh ít chất thải nguy hại nhất, tuy nhiên, chất thải của hai ngành này lại có chứa những chất nhu PCB va kim loại nặng là những chất rắn nguy hại tới sức khoẻ con người và môi trường. Riêng về loại hình chất thải độc hại đặc thù là thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV), Cục Môi Trường đã phối hợp với Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường các địa phương, tiến hành điều tra, thống kê TBVTV tồn đọng trong năm 2000-2001. Tổng lượng TBVTV tồn lưu trên phạm vi 61 tỉnh/thành phố là khoảng 300 tấn bao gồm: + Thuốc BVTV dạng lỏng: 97,374 lít + Thuốc BVTV dạng bột: 109,145 kg + Các bao bì chứa thuốc BVTV: 2.1 Tổng lượng CTRNH trên địa bàn các khu vực kinh tế trọng điểm miền Bác, miền Trung và miền Nam (tấn/năm) Đơn vị Khối lượng (tấn) Khu vực KTTD phía Bác 28.000 Hải Phòng 4.620 Quảng Ninh 119 Khu vực KTTĐ miền Trung 4.768 Quảng Ngãi 92 Liên hiệp khoa học sản xuất công nghệ hóa học, 7-2005 2 Tài liệu chuyển giao công nghệ đốt chất thải công nghiệp - Dự án KC03.DA02 Khu vực KTTĐ phía Nam 80.332_ TP Hồ Chí Minh 44.976 Bà Ria- Vũng Tàu 1. Luong CTNH tính theo ngành (tấn/năm) , Ngành phát sinh CTNH Khối lượng (tấn) Công nghiệp nhẹ 60.000 LCơ khí luyện kim 26.000 Từ chất thải sinh hoạt đô thị 5.000 Chế biến thực phẩm 4.000 Điện, Điện tử 2.2- Tình hình chung về xử lý CTRNH Thực tiễn công tác quản lý chất thải nguy hại trong nước và quốc tế cho thấy, việc từng cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có phát sinh chất thái nguy hại tự đầu tư trang bị hệ thống xử lý CTNH cho đơn vị mình, trong nhiều trường hợp không phải là sự lựa chọn hợp lý về mặt kinh tế, kỹ thuật và môi trường.
Thực tế cho thấy các nước muốn tiến hành công nghiệp hoá đều phải đầu tư xây dựng các trung tâm xử _ lý tập trung chất thải nguy hại. Các cơ sở có CTNH sẽ chuyển CTNH của mình đến các trung tâm này để xử lý và phải trả chi phí cho việc xử lý. Đây cũng là hướng đi đối với Việt nam để giải quyết vấn đề xử lý CTNH phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta vẫn chưa xây dựng được các khu xử lý CTNH tập trung.
Da có những dự án bắt đầu được triển khai về vấn đề xử lý CTNH, trong đó có thể coi Đồng Nai là một tỉnh tiên phong trong toàn quốc về vấn đề này. Tuy nhiên, hiện tại hầu hết các cơ sở SXKD phát sinh CTNH đều phải tạm thời tồn trữ CTNH tại các nhà kho của đơn vị mình, ví dụ như Công ty Fujitsu, Công ty Orion-Hanel. Việc tồn trữ tạm thời CTNH trong các nhà kho là một giải pháp tình thế. Vì vậy, việc xây dựng các khu xử lý CTNH tập trung đã và đang trở thành một trong những vấn đề rất cấp bách của công tác quản lý chất thải hiện nay.
Riêng đối với chất thải y tế, do đặc thù của ngành, Chính phủ đã cho lắp đặt các lò đốt chất thải y tế tại các bệnh viện lớn. Hiện nay có khoảng 61 lò đốt chất thải y tế Liên hiệp khoa học sản xuất công nghệ hóa học, 7-2005 3 Tài liệu chuyển giao công nghệ đốt chất thải công nghiệp — Dự án KC03.DA02 được lắp đặt trên toàn quốc. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Y tế tiến hành thẩm định các lò đốt chất thải y tế theo các yêu cầu về kỹ thuật và môi trường. Trong số 41 lò đốt đăng ký thẩm định tại Cục Môi trường, khi thẩm định về mặt hồ sơ có 20 lò đạt các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, môi trường.
Hiện nay, Bộ.Y tế đã tiến hành đo đạc thực tế các lò đốt chất thải y tế nói trên, kết quả đo đạc thực tế đang được xử lý để báo cáo Chính phủ. Tính đến tháng 6/2000, tổng công suất xử lý của các lò đốt chất thải y tế đạt khoảng 30 tấn/ngày. Tuy nhiên do chưa phối hợp tốt trong khâu thu gom, vận chuyển, xử lý, nên một số các lò đốt này không vận hành hết công suất và thời gian trong ngày. Trong khi đó rất nhiều cơ sở y tế khác lại chưa được trang bị lò đốt chất thải y tế vì vậy gây nên sự lãng phí trong việc không tận dụng hết công suất của các lò đốt chất thải y tế.
Tại nhiều cơ sở y tế, chất thải y tế còn để lẫn với các loại chất thải khác và chôn lấp đơn giản tại các bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt. Hiện nay Bộ Y tế đang hợp tác với Chính phủ Pháp xây dựng một Để án Quy hoạch tổng thể cho quản lý chất thải rắn y tế. Việc xử lý CTNH có thể được thực hiện bằng một số phương pháp như: xử lý cơ học, xử lý hoá lý, xử lý nhiệt, chôn lấp. Tại một số nước như Na Uy, Thuy Điền, Nhật Bản, Hàn Quốc.
ngoài việc áp dụng các phương pháp nêu trên đã nghiên cứu áp dụng phương pháp thiêu đốt chất thải bằng lò nung clinke. Qua khảo sát của Cục Môi trường và Dự án VCEP cùng một số cơ quan liên quan, phương pháp thiêu đốt CTNH bằng lò nung clinke có một số ưu điểm về mặt kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Phương pháp này đã tận dụng được nhiệt độ rất cao (khoảng 1400 — 2000°C) và thời gian lưu cháy dài (khoảng 4-5 giây) của lò nung clinke để phá vỡ cấu trúc bền vững của CTNH. Lò nung cũng tận dụng được nhiệt năng từ quá trình thiêu đốt các chất -thải hữu cơ để thay thế tiết kiệm một phần nhiên liệu.
Cũng có „ thể đưa vào lò nung một lượng nhất định các chất thải nguy hại dạng vô cơ để tiêu huỷ. Các chất thải vô cơ này sẽ tương tác hoặc kết hợp nguyên liệu của ximăng và là thành phần phụ gia cho ximăng. Lò nung clinke dùng để thiêu đốt CTNH phải là lò hiện đại mà trong thiết kế đã có tính đến việc thiêu đốt CTNH. Hầu hết các loại chất thải hữu cơ dạng rắn hoặc lỏng kể cả các chất thải có chứa PCB đều có thể thiêu đốt trong lò nung clinke, tuy nhiên các chất thải này cần qua công đoạn chế biến thành nhiên liệu, chất phụ gia đạt các tiêu chí nhất định trước khi đưa vào lò nung clinke.
Việc thiêu đốt CTNH trong lò clinke có thể áp dụng cho rất nhiều loại chất thải nguy hại như: các dung môi hữu cơ, dầu thải có chứa PCB, sơn, keo dán, vecni, plastic kế cả PVC, lốp cao su. Quá trình cháy trong lò clinke sẽ phá huỷ cấu trúc của các chất thải nguy hại, tro xỉ còn lại tham gia vào thành phần ximăng không gây ảnh hưởng đến chất lượng ximang. Chỉ phí cho xử lý chất thải nguy hại tuỳ thuộc vào loại chất thải, thành phần, nồng độ chất thải, phương pháp, công nghệ và thiết bị xử lý. Vì vậy, đối với từng loại Liên hiệp khoa học sản xuất công nghệ hóa học, 7-2005 4 Tài liệu chuyển giao công nghệ đốt chất thải công nghiệp ~ Dự án KC03.DA02 CTNH khác nhau, chi phí xử lý cũng rất khác nhau.
Theo số liệu của Công ty SamSung Hàn Quốc, chỉ phí trung bình cho xử lý CTNH tại Công ty này khoảng 80-90 USD/tấn, tại một số nước Châu Âu, chi phí cho xử lý thuốc bảo vệ thực vật là khoảng 6500 USD/tấn. Tại Việt Nam, Cục Môi trường đang phối hợp với một số cơ quan liên quan tổ chức xử lý thí điểm TBVTV, chi phí xử lý dự tính là khoảng 50 triệu VND/tấn (bằng phương pháp đốt) từ 30-35 triệu VND phương pháp hoá/sinh. Du bdo vé phat sinh CTRNH trén pham vi toan quéc dén nam 2010 Nhìn chung, lượng CTRNH phát sinh trong các đô thị và khu công nghiệp sẽ gia tăng và phụ thuộc vào các yếu tố sau: + Dân số đô thị. - + Trinh độ văn minh, phong tục tập quán cũng như thói quen sinh hoạt và tiêu dùng của từng vùng Lượng CTR đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam sẽ tăng ở mức tối thiểu là 0,9 kg/người.ngày cho tới năm 2010 và chỉ số này sẽ là 1,3 kg/người.
Theo số liệu dự báo của Bộ Xây dựng lượng CTR và CTR nguy hại phát sinh như sau:. Năm dự báo Khối lượng Khối lượng CTR (tan) CTRNH(tấn) 2010 11. Một số biện pháp tăng cường quản lý CTRNH 14. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành một hệ thống đồng bộ các - văn bản pháp quy liên quan đến quản lý chất thải.
** Xây dựng một hệ thống đồng bộ các văn bản pháp quy, trong đó quy định chi tiết và đầy đủ trách nhiệm của các đối tượng liên quan đến lĩnh vực quản lý CTNH. * Bổ sung đầy đủ danh mục các CTNH, trong đó mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các loại hình CTNH khác nhau. +* Xây dựng các tiêu chuẩn thải, trong đó đặc biệt chú ý đến quy định về giới hạn cho phép của các CTNH. s* Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật thu gom, vận chuyển và xử lý các CTNH.
s Xây dựng khung thuế đối với việc thải CTNH., s* Xây dựng, ban hành phí quản lý chất thải, bao gồm phí thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu huỷ CTNH. Liên hiệp khoa học sản xuất công nghệ hóa học, 7-2005 5 Tài liệu chuyển giao công nghệ đốt chất thải công nghiệp - Dự án KC03.DA02 s* Sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý các vi phạm phù hợp với tình hình thực tế của công tác quản lý CTNH.