Tổng quan nghiên cứu

Sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2006, nền kinh tế đất nước bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng với lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu gia tăng nhanh chóng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đầu mối giao thương kinh tế trọng điểm phía Nam, dịch vụ giao nhận vận tải đóng vai trò then chốt nhưng chủ yếu vận hành theo phương thức truyền thống, phân tán từng công đoạn đơn lẻ. Trong khi đó, chi phí logistics tại các quốc gia phát triển chỉ chiếm khoảng 10% đến 15% GDP, còn tại các nền kinh tế đang chuyển đổi như Trung Quốc con số này lên tới 21,3% GDP. Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp cả nước và đóng góp khoảng 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa, nhưng năng lực cạnh tranh còn rất khiêm tốn trước làn sóng thâm nhập của các tập đoàn logistics toàn cầu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá tính tất yếu và các điều kiện khả thi nhằm chuyển đổi mô hình từ giao nhận vận tải truyền thống sang cung ứng dịch vụ logistics tích hợp tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu cụ thể bao gồm hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng, phân tích thực trạng năng lực pháp lý, hạ tầng kỹ thuật, tài chính, công nghệ và nhân sự của khoảng 800 doanh nghiệp logistics tại địa bàn. Phạm vi không gian tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian chuyển tiếp sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới giai đoạn 2006 đến 2008. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập lộ trình chuyển đổi giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí vận hành từ 15% đến 20%, nâng cao năng lực cạnh tranh trên sân nhà và chủ động kết nối vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân cấp dịch vụ logistics từ cấp độ 1PL đến cấp độ 5PL cùng các mô hình quản trị chuỗi cung ứng hiện đại. Theo quan điểm của Donald Bowersox và David J. Closs, logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát hiệu quả dòng luân chuyển cùng khối lượng tồn trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ cuối cùng. Dưới góc độ học thuật trong nước, Phó Giáo sư Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Vân định nghĩa logistics là quy trình tối ưu hóa về vị trí, thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên xuyên suốt dây chuyền cung ứng.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào bốn khái niệm cốt lõi: dịch vụ giao nhận vận tải theo quy tắc mẫu của Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Giao nhận, chuỗi dịch vụ logistics tích hợp bên thứ ba và thứ tư, quản trị chuỗi cung ứng theo tiêu chuẩn của Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc, và tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ với giới hạn vốn không quá 10 tỷ đồng hoặc lao động không quá 300 người. Mô hình phân tích tập trung làm rõ tính tương thích giữa năng lực nội tại của doanh nghiệp với các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ vận tải biển và kho bãi theo khuôn khổ các hiệp định thương mại đa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các niên giám thống kê, báo cáo chuyên ngành của Cảng Sài Gòn, Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam và biểu cam kết dịch vụ gia nhập thương mại quốc tế.

Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp khảo sát chọn mẫu thuận tiện kết hợp kỹ thuật phỏng vấn sâu qua email, điện thoại và biểu mẫu khảo sát trực tiếp gửi đến các nhà quản trị doanh nghiệp giao nhận trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 110 phiếu, thu về 70 phiếu, trong đó có 64 phiếu hợp lệ đạt tỷ lệ 58,2% và 6 phiếu không hợp lệ chiếm 5,5%. Cỡ mẫu 64 doanh nghiệp được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 11.5 nhằm thực hiện thống kê mô tả tần số, phân tích tỷ lệ phần trăm và đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực logistics. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm phản ánh khách quan bức tranh thực tế về năng lực tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ truyền dữ liệu điện tử, cơ sở hạ tầng và trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân sự trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích định lượng và khảo sát thực địa đã chỉ ra ba phát hiện quan trọng phản ánh rõ nét thực trạng chuyển đổi của các doanh nghiệp giao nhận vận tải nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, quy mô vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp ở mức rất hạn chế. Khảo sát chỉ ra có tới 12,8% số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng, 21,5% doanh nghiệp có vốn từ 5 đến dưới 10 tỷ đồng, và mức vốn đăng ký trung bình chỉ đạt khoảng 1,5 tỷ đến 2 tỷ đồng cho mỗi đơn vị. Tổng diện tích kho bãi của toàn ngành trên địa bàn đạt hơn 170.000 m2 nhưng phần lớn là kho thường xây dựng trên 20 năm trước, tỷ trọng kho ngoại quan đạt chuẩn quốc tế rất thấp. Hệ thống cảng biển rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng, đơn cử như Cảng Cát Lái phải hoạt động với công suất thực tế hơn 1,5 triệu TEU trong khi công suất thiết kế chỉ đạt 1,2 triệu TEU.

Thứ hai, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và hạ tầng kết nối điện tử còn sơ khai và thiếu đồng bộ. Hầu hết các đơn vị chỉ dừng lại ở việc trao đổi thông tin qua thư điện tử hoặc điện thoại. Việc triển khai hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử chỉ mới được ứng dụng hoàn chỉnh tại cảng container quốc tế VICT, trong khi các khu cảng lớn như Bến Nghé, Khánh Hội và Tân Cảng mới ở giai đoạn khởi điểm hoặc chưa thể kết nối liên thông. Sự thiếu hụt kết nối giữa doanh nghiệp logistics với hệ thống ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước và cơ quan Hải quan khiến thời gian hoàn tất thủ tục thông quan thường bị kéo dài từ 5 đến 7 ngày.

Thứ ba, sự thiếu hụt nghiêm trọng về chất lượng nguồn nhân lực chuyên môn hóa cao. Kết quả khảo sát 64 doanh nghiệp cho thấy có tới 89% doanh nghiệp dựa hoàn toàn vào việc tuyển dụng nhân sự phổ thông đầu vào, 80% doanh nghiệp phải tự đào tạo lại nội bộ sau khi tuyển dụng, chỉ có 14% nhân sự được tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu về logistics do các tổ chức quốc tế giảng dạy, và 0% doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ đào tạo trực tiếp từ ngân sách hay các chương trình hỗ trợ của Nhà nước.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ nguyên nhân nội tại là tuổi đời hoạt động trung bình của các doanh nghiệp logistics tại Thành phố Hồ Chí Minh còn rất trẻ, chỉ khoảng 5 năm. Đa phần các đơn vị xuất thân từ đại lý giao nhận hàng hóa giản đơn, thiếu chiến lược liên kết ngang và liên kết dọc. Dữ liệu khảo sát khi được tổng hợp qua bảng phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho thấy các doanh nghiệp đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt khi thời hạn bảo hộ tỷ lệ góp vốn nước ngoài 49% trong các liên doanh vận tải biển dần được dỡ bỏ sau 2 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

Khi so sánh với bài học thành công từ Trung Quốc, quốc gia đã đạt doanh thu logistics 48.000 tỷ Nhân dân tệ vào năm 2005 với tốc độ tăng trưởng 25,4% mỗi năm nhờ việc điều chỉnh hơn 2.300 văn bản quy phạm pháp luật và cấp gói tín dụng xuất khẩu 59 tỷ USD, hay mô hình của Thái Lan với ngành dịch vụ đóng góp 59% GDP và duy trì tỷ lệ kiểm soát vốn nội địa từ 51% đến 70% trong dịch vụ vận tải quốc tế, có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam đang thiếu đi bệ đỡ chính sách đồng bộ. Việc mô tả cấu trúc chi phí qua các bảng biểu cước phí vận tải container năm 2006 từ Cảng Sài Gòn đi Châu Âu ở mức 1.000 USD cho container 20 feet và 3.500 USD đi bờ Đông nước Mỹ cho thấy chi phí vận chuyển phụ thuộc quá nhiều vào các hãng tàu nước ngoài, làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, bốn nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi được đề xuất nhằm thúc đẩy tiến trình chuyển đổi hiệu quả:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và chuẩn hóa điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics tích hợp. Bộ Công thương phối hợp cùng Bộ Giao thông Vận tải và các cơ quan liên quan cần rà soát, đồng bộ hóa các điều khoản về vận tải đa phương thức trong Luật Hàng hải 2005, Luật Giao thông đường bộ và Luật Thương mại 2005. Cần ban hành các tiêu chuẩn rõ ràng về năng lực tài chính tối thiểu, trang thiết bị kỹ thuật và quy chế pháp lý của người chuyên chở không có tàu, hoàn thành việc sửa đổi cơ chế cấp phép trước năm 2010.

Thứ hai, gia tăng tiềm lực tài chính và đẩy mạnh liên minh chiến lược giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp cần chủ động sáp nhập, hợp tác liên kết để nâng mức vốn điều lệ trung bình từ 1,5 tỷ đồng lên mức 5 tỷ đến 10 tỷ đồng, đủ năng lực đầu tư hệ thống phương tiện vận tải chuyên dùng và kho bãi hiện đại, giảm tỷ lệ phụ thuộc vào việc thuê ngoài phương tiện từ mức 70% xuống dưới 40% trong lộ trình 3 đến 5 năm tới do các doanh nghiệp tự chủ trì cùng sự định hướng của Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam.

Thứ ba, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng cảng biển, kho bãi và đẩy mạnh ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Cục Hàng hải cần đẩy nhanh tiến độ di dời hệ thống cảng nội thành ra khu vực Hiệp Phước, Cái Mép - Thị Vải, đồng thời đầu tư đồng bộ hệ thống cảng cạn ICD Tân Tạo, Phước Long. Doanh nghiệp cần phối hợp với cơ quan Hải quan áp dụng 100% phần mềm quản lý kho, định vị toàn cầu GPS và chuẩn dữ liệu điện tử EDI trong giai đoạn 2008 đến 2015.

Thứ tư, đổi mới căn bản chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn như Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại thương cần xây dựng chuyên ngành đào tạo logistics và quản trị chuỗi cung ứng bài bản theo chuẩn FIATA, phấn đấu nâng tỷ lệ nhân sự qua đào tạo bài bản từ 14% lên trên 50% trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà sáng lập, giám đốc điều hành và cán bộ quản lý tại hơn 800 doanh nghiệp kinh doanh giao nhận vận tải và dịch vụ logistics nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tài liệu cung cấp góc nhìn toàn diện về lộ trình chuyển đổi từ mô hình 1PL, 2PL sang 3PL, hỗ trợ tái cấu trúc bộ máy quản trị và tối ưu hóa quy trình luân chuyển hàng hóa.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Công thương, Bộ Giao thông Vận tải, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Khu chế xuất Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và số liệu thực tiễn để hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics, quy hoạch hệ thống cảng cạn và hoàn thiện hành lang pháp lý hậu gia nhập thương mại quốc tế.

Nhóm thứ ba là các hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong việc thiết kế các chương trình đào tạo nghiệp vụ, kết nối mạng lưới hội viên và đại diện bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp nội địa trước các tranh chấp quốc tế.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, nhà nghiên cứu, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Quản trị Logistics và Quản lý Chuỗi cung ứng, sử dụng làm tài liệu học thuật và mô hình nghiên cứu điển hình về chuyển đổi mô hình kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp giao nhận vận tải nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải những thách thức cốt lõi nào khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới? Thách thức lớn nhất là áp lực cạnh tranh trực tiếp từ các tập đoàn logistics đa quốc gia với nguồn tài chính hùng hậu, mạng lưới toàn cầu và công nghệ hiện đại khi cam kết mở cửa cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn ngoại. Trong khi đó, hơn 90% doanh nghiệp nội địa có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng và chỉ đảm nhận các dịch vụ đơn lẻ có giá trị gia tăng thấp.

Mô hình chuyển đổi từ 2PL sang 3PL mang lại lợi ích cụ thể gì cho doanh nghiệp nhỏ và vừa? Chuyển đổi từ mô hình 2PL sang 3PL giúp doanh nghiệp chuyển từ việc cung cấp dịch vụ vận chuyển đơn thuần sang quản trị trọn gói dòng hàng hóa và thông tin. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể ký kết các hợp đồng dài hạn, nâng mức biên lợi nhuận dịch vụ thêm khoảng 15% đến 25% và giảm thiểu rủi ro biến động giá cước cục bộ trên thị trường.

Thực trạng mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của ngành logistics tại Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm nghiên cứu ra sao? Việc ứng dụng công nghệ thông tin còn rất manh mún và chưa có sự liên thông đồng bộ. Ngoại trừ cảng container quốc tế VICT đã ứng dụng hệ thống truyền dữ liệu điện tử, phần lớn các cảng và doanh nghiệp vẫn thực hiện chứng từ thủ công bằng giấy tờ, gây chậm trễ trong quy trình giải phóng hàng và nộp thuế xuất nhập khẩu.

Tại sao nhân lực được xem là rào cản lớn nhất trong tiến trình chuyển đổi của doanh nghiệp? Bởi vì logistics là lĩnh vực tích hợp đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về quản trị chuỗi cung ứng, vận tải đa phương thức và luật thương mại quốc tế. Thực tế 80% doanh nghiệp phải tự đào tạo lại nhân sự sau tuyển dụng do hệ thống đại học thời điểm đó chưa có mã ngành đào tạo logistics độc lập, dẫn đến năng suất lao động và khả năng xử lý tranh chấp quốc tế còn yếu kém.

Kinh nghiệm phát triển logistics của Thái Lan và Trung Quốc gợi mở bài học gì cho Việt Nam? Bài học then chốt là vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc quy hoạch đồng bộ hạ tầng giao thông, hiện đại hóa hải quan điện tử và xây dựng hàng rào bảo hộ hợp lý thông qua việc giới hạn tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài từ 49% đến 51% trong giai đoạn đầu, kết hợp hỗ trợ tín dụng ưu đãi để nâng tầm doanh nghiệp nội địa.

Kết luận

Luận văn đã làm rõ tính cấp thiết và giải quyết trọn vẹn bài toán chuyển đổi từ giao nhận vận tải truyền thống sang dịch vụ logistics tích hợp cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các kết quả then chốt được đúc kết qua các nội dung trọng tâm:

  • Khái quát hóa hệ thống lý luận về chuỗi logistics từ 1PL đến 5PL và chứng minh vai trò chiến lược của quản trị chuỗi cung ứng đối với nền kinh tế mở cửa.
  • Đánh giá chân thực thực trạng khảo sát từ 64 doanh nghiệp với các hạn chế về quy mô vốn bình quân dưới 2 tỷ đồng, kho bãi xuống cấp và 80% nhân sự phải tự đào tạo lại.
  • Phân tích sâu sắc các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ vận tải biển theo khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới và các tác động đa chiều đến thị trường nội địa.
  • Đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc và Thái Lan về bảo hộ có điều kiện, hoàn thiện thể chế và hỗ trợ vốn tín dụng cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về pháp lý, vốn, công nghệ hạ tầng và đào tạo nhân lực giai đoạn 2008 đến 2015 và định hướng đến năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2008 đến năm 2015, các doanh nghiệp cần khẩn trương hiện thực hóa liên minh chiến lược và đầu tư nền tảng số hóa. Các nhà quản trị, nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách hãy cùng khai thác các luận cứ khoa học từ công trình nghiên cứu này để xây dựng ngành dịch vụ logistics Việt Nam hiện đại, vững bước vươn tầm quốc tế.