Chương 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐIẠ BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch CCKT công nghiệp gắn với phát triển kinh tế 1. Những vấn đề cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch CCKT 1. Quan niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế công nghiệp a.
Cơ cấu kinh tế Trong phát triển KT-XH của một quốc gia hay một địa phương vấn đề quan trọng là phải xác định được một CCKT hợp lý, khoa học. Quá trình phát triển kinh tế luôn có những nhân tố tác động tạo ra sự chuyển dịch CCKT. Khi nghiên cứu về kinh tế, nhất là nghiên cứu để hoạch định chính sách phát triển KT-XH cần làm rõ về lý luận CCKT, chuyển dịch CCKT, từ đó làm rõ sự chuyển dịch CCKT ngành, chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp. + Cơ cấu (structure) được dùng để chỉ về cách tổ chức, cấu tạo, sự điều chỉnh các yếu tố tạo nên một hình thể, một vật, một bộ phận, sau này khái niệm cơ cấu được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc gia.
+ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành [Gt HVCTQG-HCM].Mác: CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của xã hội [4]. Như vậy, có thể hiểu: CCKT là tổng thể các mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế tương ứng với những điều kiện KT-XH trong một thời kỳ nhất định. download by : skknchat@gmail.com 6 Xét về mặt chất, thì CCKT là các quan hệ gắn bó giữa các yếu tố kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất. Về mặt lượng, đó là quan hệ tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, quốc gia về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực. Thuật ngữ "cơ cấu kinh tế" vận dụng không chỉ ở góc độ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân mà còn vận dụng ở phạm vi một địa phương, một ngành, một lĩnh vực nào đó của KT-XH. Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế được nghiên cứu phân tích dưới các góc độ khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, CCKT theo vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, đây là ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vị trí chủ yếu trong CCKT của mọi quốc gia. Một là, Cơ cấu thành phần của nền kinh tế: gắn với chế độ sở hữu về TLSX, sở hữu về TLSX hình thành nên cơ cấu thành phần kinh tế.
Tùy theo phương thức sản xuất mà có thành phần kinh tế chiếm địa vị chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại trong nền kinh tế. Hai là, Cơ cấu các vùng của nền kinh tế: là sự phân chia nền kinh tế quốc dân theo chuyên môn hóa về chức năng, nhằm để chuyên môn hóa sản xuất đạt hiệu quả cao về KT-XH. Ba là, Cơ cấu ngành của nền kinh tế: là tổ hợp các nhóm ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế gồm ba nhóm ngành chủ yếu là: - Nhóm ngành khai thác tài nguyên (khu vực I): bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp, khai thác quặng mỏ khoáng sản. - Nhóm ngành công nghiệp (khu vực II): bao gồm công nghiệp và download by : skknchat@gmail.com 7 xây dựng. - Nhóm ngành dịch vụ (khu vực III): bao gồm thương mại, dịch vụ, bưu chính viễn thông. Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp - Cơ cấu nội bộ ngành kinh tế: là một cấu trúc bao gồm các phân ngành trong nội bộ một ngành nhất định và mối quan hệ giữa các phân ngành đó.
Mối quan hệ giữa các phân ngành được thể hiện ở: 1) Tương quan tỷ lệ giữa các phân ngành trong nội bộ ngành đó; 2) Sự tác động qua lại giữa các phân ngành tạo nên tính chỉnh thể của CCKT nội bộ ngành. Nói đến CCKT nội bộ ngành là nói đến CCKT nội bộ ngành công nghiệp - xây dựng hoặc CCKT nội bộ ngành nông nghiệp hoặc CCKT nội bộ ngành dịch vụ. - Cơ cấu kinh tế công nghiệp Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân, là ngành sản xuất ra TLSX và tư liệu tiêu dùng; là ngành tạo ra sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhất là sự phát triển của khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Công nghiệp được phân chia thành ba nhóm ngành chính là: Công nghiệp khai thác; Công nghiệp chế biến; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước.
- Công nghiệp khai thác: nhằm khai thác những tài nguyên thiên nhiên để tạo nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến. - Công nghiệp chế biến: là ngành sử dụng các nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng, trong đó các ngành công nghiệp sản xuất ra TLSX và các ngành công nghệ cao có vai trò quyết định đối với việc phát triển công nghiệp của mỗi nước. Công nghiệp chế biến là tiêu thức quan trọng để đánh giá trình độ phát triển công nghiệp của một quốc gia. - Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước: là các ngành sản xuất kết cấu hạ tầng phục vụ cho các ngành, lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội.
download by : skknchat@gmail.com 8 Vậy, cơ cấu kinh tế công nghiệp là một cấu trúc bao gồm tổng thể các phân ngành của sản xuất CN và tương quan tỷ lệ giữa các phân ngành đó. Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa các nhóm ngành công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến; công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước trong tổng thể ngành công nghiệp được xác định bằng tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng sản phẩm của ngành công nghiệp tạo ra. Cơ cấu của ngành công nghiệp được hình thành từ sự phát triển của phân công lao động xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, từ cuộc cách mạng KHKT lần thứ nhất đến lần thứ hai và hiện nay là cuộc cách mạng KHKT lần thứ ba trên thế giới. Cơ cấu ngành công nghiệp luôn thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố Nhà nước đề ra mục tiêu lựa chọn quy mô phát triển các ngành công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy việc xây dựng cơ cấu ngành công nghiệp một cách tối ưu, nhằm thực hiện CNH, HĐH ở mỗi quốc gia.
Những yêu cầu đặt ra về chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế a. Những vấn đề cơ bản về phát triển nền kinh tế Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội. Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau: - Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Nội dung này phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. download by : skknchat@gmail.com 9 - Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Nội dung này phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất để có thể bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng. Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế. Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể là: + Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số. + Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để bảo đảm tăng trưởng bền vững.
+ Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ kết quả của tăng trưởng kinh tế. + Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu của con người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Như vậy, phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa khá toàn diện, là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại. Phát triển kinh tế bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết và cơ bản để giải quyết công bằng xã hội. Công bằng xã hội vừa là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển. Mức độ công bằng xã hội càng cao thì trình độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội càng có cơ sở bền vững. Những yêu cầu đặt ra về chuyển dịch CCKT gắn với phát triển kinh tế download by : skknchat@gmail.