Chương 1). Như vậy, tín dụng ngân hàng đối với DNVVN có thể được hiểu là việc thỏa thuận giữa ngân hàng và DNVVN, theo đó ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho DNVVN theo nguyên tắc có hoàn trả. Nguồn tiền dùng để ngân hàng cấp tin dụng cho DNVVN đến từ hai nguồn bao gồm: vốn tự có của ngân hàng và nhận tiền gửi của khách hàng. Cụ thể: - Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN Việt Nam.
- Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, tiền lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Xuất phát từ các đặc điểm chung của DNVVN là năng lực tài chính thấp, khả năng tiếp cận thông tin và thị trường hạn chế; thiếu tài sản thế chấp, khả năng chống đỡ rủi ro còn thấp nên ngân hàng thường có tâm lý thận trọng hơn khi cho các DNVVN vay vốn vì rủi ro tín dụng là cao hơn nhiều so với khi cho vay các DN lớn. download by : skknchat@gmail.com 15 Vốn tín dụng ngân hàng dành cho các DNVVN không những thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế này mà thông quá đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, vì việc mở rộng cho vay đối với các DNVVN giúp cho các ngân hàng chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý, tăng trưởng tín dụng, đa dạng hóa danh mục đầu tư cho vay, phân tán rủi ro và nâng cao vị thế cạnh tranh. Việc cấp vốn tín dụng ngân hàng cho các DNVVN góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN.
Trong quá trình cấp tín dụng thì ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc DN phải sử dụng vốn đúng mục đich và hoạt động kinh doanh có lợi nhuận để đảm bảo trả nợ gốc và lãi vay cho ngân hàng đúng hạn. Nguồn vốn vay ngân hàng được coi là đòn bẩy tài chính giúp DNVVN tối ưu hóa cơ cấu vốn, đạt chi phí sử dụng vốn thấp nhất, tiết kiệm chi phí. Các DNVVN thường có nguồn vốn hạn chế, nếu biết sử dụng 100% vốn tự có kết hợp thêm nguồn vốn vay với tỷ lệ hợp lý sẽ giúp tối đa hóa lợi nhuận cùng mức giá vốn bình quân rẻ nhất. Các phương thức tín dụng ngân hàng đối với DNVVN * Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng (i) Cho vay Cho vay vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho DNVVN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Các hình thức thường thấy trong hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNVVN bao gồm: + Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay phục vụ cho những khách hàng là DNVVN có nhu cầu không thường xuyên, phát sinh từng lần riêng lẻ. Mỗi khoản vay được lưu trữ thành các hồ sơ độc lập với sự kiểm tra tách biệt từng lần hồ sơ. download by : skknchat@gmail.com 16 + Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay theo đó ngân hàng ký một hợp đồng hạn mức tín dụng với DNVVN trong đó quy định những điều kiện cho vay cơ bản như số tiền hạn mức, doanh số cho vay, lãi suất, thời gian cho vay tối đa cho từng lần giải ngân, thời gian duy trì hạn mức…DNVVN chỉ cần trình phương án sử dụng tiền vay, cung cấp các chứng từ chứng minh phù hợp để đề nghị được ngân hàng giải ngân. + Cho vay thấu chi: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép người vay chi vượt quá số dư tài khoản thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong một khoảng thời gian nhất định (hạn mức thấu chi).
+ Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Các tổ chức này có thể nhận vài khâu của hoạt động cho vay từ ngân hàng hoặc đứng ra bảo lãnh cho các thành viên vay vốn. Hình thức cho vay này thường áp dụng những món vay nhỏ, người vay phân tán hoặc cách xa ngân hàng. (ii) Chiết khấu Chiết khấu thực chất là hoat động cho vay ngắn hạn dưới hình thức mua các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng chưa đến hạn thanh toán.
(iii) Bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng cam kết bên nhận bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận. * Căn cứ vào bảo đảm tín dụng Căn cứ vào bảo đảm tín dụng, các khoản vay cho DNVVN bao gồm: tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm download by : skknchat@gmail.com 17 (i) Cho vay có bảo đảm Là việc khách hàng dùng tài sản bảo đảm của mình hoặc bên thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho vay vốn ở ngân hàng. Cho vay có đảm bảo bao gồm các hình thức cầm cố thế chấp hoặc bảo lãnh tài sản của người thứ ba. Đối với DNVVN, cầm cố, thế chấp là các hình thức tương đối dễ áp dụng trên thực tế và được các DNVVN áp dụng thường xuyên.
Đây cũng là giải pháp đầu tiên của DNVVN đề cập tới khi nhu cầu về vốn nảy sinh. (ii) Cho vay không có bảo đảm Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho thành viên viên vay, nhất là trong trường hợp không đủ tài sản thế chấp. * Căn cứ vào mục đích vay vốn của khách hàng Theo mục đích vay vốn của khách hàng các hình thức cho vay có thể chia thành: (i) Cho vay kinh doanh bất động sản: bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn, giải phóng mặt bằng, các khoản vay dài hạn tài trợ cho mua nhà, đất canh tác, trung tâm thương mại và mua các tài sản nước ngoài. (ii) Cho vay nông nghiệp: nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình gieo giống, thu hoạch, bảo quản sản phẩm.
(iii) Cho vay công nghiệp và thương mại: Hỗ trợ các doanh nghiệp trang tải các khoản chi phí mua nguyên vật liệu, máy móc… (iv) Cho vay khác: các khoản cho vay chính phủ, cho vay chính phủ nước ngoài, cho vay theo thương phiếu chấp nhận thanh toán… (v) Tài trợ thuê mua: đây là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng, là nghiệp vụ mà ngân hàng đảm nhận việc thanh toán tiền mua may móc, thiết bị và giữ quyền sở hữu máy móc thiết bị đó; người thuê được lựa chọn máy móc thiết bị phù hợp với nhu cầu kinh doanh và được lắp tại nơi download by : skknchat@gmail.com 18 tiến hành sản xuất kinh doanh của người thuê trong suốt thời hạn thuê, ngân hàng sẽ nhận được tiền từ người thuê, khi hết hạn thuê bên đi thuê có thể mua lại tài sản mình đã thuê theo giá bán đã định trước khi ký kết hợp đồng thuê. * Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn vay Phân chia theo thời hạn vay có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian vay có liên quan đến tính an toàn, sinh lợi của doanh nghiệp cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời hạn các khoản vay chi thành: (i) Cho vay ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động, nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. (ii) Cho vay trung hạn: Hiện nay để đáp ứng nhu cầu vay của doanh nghiệp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định thời hạn tín dụng trung hạn là từ 1 đến 5 năm.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được dùng để mua sắm tài sản cố định, cải tạo hoặc thay đổi thiết bị, công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống, sản xuất… (iii) Cho vay dài hạn: Loại tín dụng này có thời hạn dài hơn tín dụng trung hạn, được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, xây dựng nhà máy, xí nghiệp lớn, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng… * Căn cứ vào loại tiền vay Hình thức cho vay được chi thành: (i) Cho vay bằng đồng bản tệ (ii) Cho vay bằng đồng ngoại tệ 1. Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm chất lượng tín dụng và sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng Chất lượng tín dụng là sự đảm bảo về khả năng sinh lời và an toàn về vốn đối với các khoản tín dụng của ngân hàng thương mại với khách hàng. Như vậy, nội hàm của chất lượng tín dụng là (i) khả năng sinh lời và (ii) khả năng an toàn về vốn.
Tín dụng được hiểu là hoạt động cho vay của ngân download by : skknchat@gmail.com 19 hàng thương mại, chính là hoạt động truyền thống và chủ yếu tạo lợi nhuận cho ngân hàng. Một khoản tín dụng có chất lượng chắc chắn phải là một khoản tín dụng sinh lời cho ngân hàng. Đây là điều kiện Cần cho chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, nếu chỉ tính đến lợi nhuận mà đưa đến tình trạng mất an toàn cho ngân hàng do mức độ, giới hạn tín dụng không phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng thì lợi nhuận cũng không còn ý nghĩa.
Do đó, an toàn về vốn chính là điều kiện Đủ để khẳng định khoản tín dụng đó có chất lượng. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, ở bất kì quốc gia nào thì các chủ thể kinh doanh cũng phải đối mặt với những thách thức mới với câu hỏi trọng tâm là làm thế nào để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Trong bối cảnh như vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng nổi lên như một mắt xích trọng yếu.