CHƯƠNG 1 CƠ SỞ L LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 1.1 Khái niệm, đặc điểm, v i trò củ cán bộ công chức cấp xã 1.1 Khái niệm cán bộ công chức cấp xã - Khái niệm cán bộ cấp xã: Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ của trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội [1]. - Khái niệm công chức cấp xã: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [1]. - Về cơ cấu tổ chức bộ máy cấp xã, gồm: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) và 05 đoàn thể, gồm: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (UBMTTQ), Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. - Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: + Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; + Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; + Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; + Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ; + Chủ tịch Hội Nông dân (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); 5 + Chủ tịch Hội Cựu chiến binh.
- Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: + Trưởng Công an; + Chỉ huy trưởng Quân sự; + Văn phòng – thống kê; + Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); + Tài chính – kế toán; + Tư pháp – hộ tịch; + Văn hóa – xã hội.2 Đặc điểm cán bộ công chức cấp xã - Đội ngũ CBCC cấp xã đa số là người địa phương, họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết các công việc của Nhà nước. Do đó một phần CBCC bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương, của dòng họ. - Là người đại diện cho quần chúng nhân dân lao động ở cơ sở, nắm bắt rõ nguyện vọng của nhân dân từ đó có những cách tiến hành công việc phù hợp, đảm bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân và thực hiện đúng pháp luật, quy định của Nhà nước. - Số cán bộ cấp xã do dân bầu ra chính vì vậy số lượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ lại bầu những đại diện mới.
- Đội ngũ CBCC cấp xã hiện nay có trình độ chuyên môn hóa trong công việc chưa cao, các vị trí còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc, trong đó có những công việc không phải là chuyên môn đã được đào tạo của mình. Điều này xuất phát từ thực tiễn số lượng cán bộ trong tổ chức còn chưa nhiều, mà các công việc phát sinh trong công tác hành chính, quản lý lại rất nhiều, chồng chéo. 6 - Qua tổng kết thực tiễn hoạt động của CBCC cấp xã cho thấy, những công việc thuộc lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước của UBND, hoạt động của Mặt trận, đoàn thể cấp xã đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên, chuyên nghiệp và do đó trong đội ngũ CBCC cấp xã có một bộ phận cần phải chuyên sâu, chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ.3 Vai trò của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã Đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò quyết định trong việc triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại cấp xã. Là những người giữ vai trò trụ cột, có tác dụng chi phối mọi hoạt động tại cấp xã.
CBCC cấp xã không những phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Đoàn thể, tuyên truyền phổ biến, dẫn dắt tổ chức cho quần chúng thực hiện mà còn phải am hiểu sâu sắc đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, những yếu tố văn hóa của địa phương để đề ra những nhiệm vụ, biện pháp cụ thể hóa đường lối, chủ trương chính sách cho phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII khẳng định trong công cuộc đổi mới của đất nước thì: Cán bộ hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới.
Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cấp xã nói riêng có vị trí nền tảng cấp xã. Cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cấp xã. Cấp xã là cấp trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng.
Cấp xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn. CBCC cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng, phù hợp 7 với thực tiễn. Vì vậy, vị trí vai trò của CBCC cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân.2 Tiêu chuẩn, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 1.1 Tiêu chuẩn cán bộ công chức cấp xã Công chức cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung như sau [2]: - Đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội: + Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; + Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; + Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao; + Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác. - Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã: ngoài những tiêu chuẩn trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
Ngoài ra công chức xã phải có đủ các tiêu chuẩn cụ thể như sau [3]: - Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên; - Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm; 8 - Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông; - Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; - Tiếng dân tộc thiểu số: ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công; - Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã “Chất lượng” hiểu một cách khái quát là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”. Với cách hiểu như vậy, chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã được xem xét dưới nhiều giác độ khác nhau: Thứ nhất, chất lượng đội ngũ CBCC được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy cấp xã và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Năng lực, phẩm chất, tính tích cực, tự giác của mỗi CBCC, cơ sở vật chất, tính tổ chức khoa học, tính hợp lý trong hoạt động của bộ máy… Trong đó chất lượng hoạt động của CBCC cấp xã là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của cấp xã. Thứ hai, chất lượng của đội ngũ cán bộ được xác định trong mối tương quan giữa số lượng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ được giao. Tính hợp lý được biểu hiện ở sự tinh giảm đến mức tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Trong đó, mỗi cá nhân phát huy được hết năng lực, sở trường của mình hoàn thành tốt công việc được giao, góp phần thúc đẩy cho bộ máy vận hành thông suốt và đạt hiệu quả cao nhất. Tính hợp lý về số lượng biểu hiện ở sự cân đối, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.