ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học (ĐDSH) có một vai trò cực kì to lớn đối với con người, đó là điều không thể phủ nhận. Từ xa xưa, con người đã sử dùng nguồn tài nguyên này cho nhiều mục đích khác nhau để phục vụ đời sống như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nơi ở, và ngay cả những hoạt động tinh thần như phong tục tập quán, nghệ thuật - thi ca, hội hoạ. cũng đều xuất phát từ mối liên hệ giữa con người và những sinh vật xung quanh, “Hệ thống giá trị của hầu hết tôn giáo, triết học đã cung cấp và biện hộ cho sự hiểu biết của con người về bảo tồn loài” [23]. Trong các nhu cầu cơ bản của con người thì chữa bệnh là một điều hết sức quan trọng, đây là vấn đề mà bất cứ dân tộc nào, cá nhân nào cũng phải quan tâm, đặc biệt khi xã hội loài người đang ở giai đoạn mà khoa học chưa phát triển, chưa có những loại thuốc tây y (theo cách gọi hiện nay) thì con người chỉ dựa hoàn toàn vào những vị thuốc lấy từ thiên nhiên.
Trải qua nhiều thế hệ, con người mới tổng kết được những phương pháp khai thác, chế biến và sử dụng những loài cây, con làm thuốc, những hiểu biết này chưa được công bố mà nó chỉ tồn tại ở những nhóm nhỏ người sống trong các bản làng ở vùng rừng núi và ta gọi chúng là kiến thức bản địa. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta đã xem nhẹ cách chữa bệnh truyền thống để tôn vinh những sản phẩm được bào chế chủ yếu từ các chất hoá học - thuốc tây hiện nay, “trong hoạt động bảo tồn ĐDSH thì những kiến thức bản địa cần phải được đánh giá ngang tầm với những hệ thống kiến thức khác” [37]. Cả Đông y và Tây y đều có vai trò rất lớn trong sự tiến bộ của loài người và tài nguyên thực vật không những là nguồn nguyên liệu chủ yếu trong Đông y mà nó cũng rất quan trong trong Tây y. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam như 2 hiện nay thì sự phân hoá giàu nghèo, mức sống giữa những cá nhân, các vùng miền ở đồng bằng và miền ngược có sự chênh lệch rất lớn, do đó không phải ai cũng có điều kiện để có thể tiếp cận được với những dịch vụ y tế đắt tiền, y học dân tộc có thể đảm đương được một phần rất lớn để giải quyết vấn đề này, vì khả năng chữa bệnh của chúng là điều không thể phủ nhận, không phải cứ nhất thiết phải dùng hoá phân tích một cách rõ ràng rồi mới dùng, chúng ta không đợi nghiên cứu xong rồi mới đem ra áp dụng vì “những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha đã được chứng minh trên người thực, bệnh thực từ bao đời nay rồi” [20].
Mặt khác trong những năm qua, nhà nước ta cũng xác định cần phải phối hợp Đông và Tây y mới có thể đem lại những lợi ích cho cả cộng đồng, như vậy xã hội chúng ta đã thừa nhận và coi trọng y học cổ truyền. Việt Nam có điều kiện tự nhiên nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho các loài thực vật phân bố và nước ta được xem là một trong những trung tâm ĐDSH của thế giới. Theo thống kê của Viện Dược liệu - Bộ Y tế, từ năm 1961-2004, ở Việt Nam có khoảng 3.948 loài thực vật và nấm, thuộc 307 họ có giá trị sử dụng làm thuốc, trong đó khoảng 80% là những loài cây thuốc mọc tự nhiên trong rừng, nhưng hiện nay những khu rừng nhiệt đới đa dạng, nơi sinh sống lý tưởng cho những loài này đang bị thu hẹp với một tốc độ nhanh chóng, chỉ còn lại một diện tích rất nhỏ ở trong những khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia. Những khu rừng này được ví như những ốc đảo nhỏ bé nằm trên sa mạc của sự tàn phá, quy mô về diện tích cũng như số lượng của các khu bảo tồn ngày càng được tăng lên nhưng chất lượng của chúng lại ngược lại, do đó chúng ta cần phải hành động ngay để cứu lấy tài nguyên ĐDSH nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng.
Cần phải xác định được các đặc điểm của đối tượng từ đó mới có những ưu tiên và phương pháp bảo tồn thích hợp. Trên cơ sở những nghiên cứu về ĐDSH chung, đối với những loài cây thuốc, một yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải nắm được thành 3 phần loài và giá trị sử dụng của chúng ở từng VQG và khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), để từ đó có kế hoạch bảo tồn đi đôi với sử dụng một cách có hiệu quả cao. VQG Vũ Quang nằm trong vùng sinh thái Bắc Trường Sơn, có mức độ ĐDSH rất cao, đặc trưng nhất là kiểu rừng mưa nhiệt đới và rừng nhiệt đới núi cao. Mặt khác, ở đây có một bộ phận dân địa phương bao gồm cả người kinh, người dân tộc Lào khá đông sinh sống lâu đời ở vùng sâu trong rừng, những kinh nghiệm sử dụng thuốc của họ chưa được ai quan tâm nghiên cứu.
Để phục vụ công tác bảo tồn, chúng ta cần phải nắm được thành phần loài, phân bố, công dụng… của cây thuốc từ đó mới có những chiến lược và công cụ hợp lý. Xuất phát từ yêu cầu về thực tiễn và lý luận đó chúng tôi tiến hành đề tài “Điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh”. 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nền y học cổ truyền dùng cây cỏ để làm thuốc có mặt từ rất sớm ở hầu hết các nơi trên thế giới.
Ở miền Địa Trung hải, miền trung châu Âu đã được biết từ thời Galien, Điốtcôride và Hipôcrat, các thầy thuốc thời trung cổ đã dùng những cỏ cây, vỏ, rễ… để chữa bệnh, họ đã xây dựng được một nền lý thuyết khá cơ bản, từ đó làm nền tảng cho nền y học hiện đại, một số cây thuốc đó dưới dạng này hay dạng khác được dùng làm nguyên liệu chế các chế phẩm của Tây y. Nhưng nền y học phương Đông đã sử dụng một số lượng loài làm thuốc lớn hơn nhiều. Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam, trong giai đoạn này đã xuất hiện những nhà khoa học châu Âu để tâm nghiên cứu về nền y học Việt nam, trong đó phần nhiều họ quan tâm nghiên cứu về thực vật chí và nghiên cứu về cây thuốc. Đầu tiên là những bút kí về y học của Tarell và cộng sự sau cuộc viễn du miền Đông Dương, nhưng đây chỉ mới là những tài liệu rời rạc chưa được công bố một cách cụ thể.
Regnault (1902) đã nghiên cứu một cách cụ thể hơn, ông đã cho xuất bản cuốn sách về nền y học cổ truyền Trung Quốc và Việt Nam, tác phẩm này đã sưu tầm được 494 loài cây làm thuốc, và có tên gọi Latinh. Công trình về dược liệu Việt Nam được E.Petrot và Paul Hunrier nghiên cứu và cho xuất bản vào năm 1907. Tiếp đó là công trình của nhà thực học người Pháp Pétélot và Crévost, được xuất bản gồm 2 tập (1952-1953) về “Cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam”[20]. Ở Nga, cũng có nhiều nhà thực vật quan tâm nghiên cứu về cây thuốc như I.
Iaxenko, và đã xuất hiện Dược điển, những công trình này 5 ghi lại thành phần cây, con làm thuốc và họ đã đưa ra được những phân tích về phương pháp sử dụng thuốc Đông y so với những vị thuốc quen sử dụng. Vào năm 2006, Nguyễn Kim Dân đã biên dịch cuốn “ Dược thảo toàn thư”[1] của Andrew Chevallier, trong đó ông đã mô tả về hình thái và công dụng của hơn 550 loài thực vật làm thuốc trên toàn thế giới, chú trọng vào những loài phân bố rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và mô tả đúng với phương pháp cổ điển trong việc chế biến và sử dụng. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Trong những đầu của thế kỉ XX, nhà thực vật học người Pháp H. Lecomte và cộng sự đã giới thiệu bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương, trong đó đã mô tả, định tên khoa học và lập khoá phân loại cho các loài thực vật có mạch.
Tiếp đó, Thái Văn Trừng đã bổ sung và rà soát lại và công bố cuốn “Thảm thực vật rừng Việt Nam”, trong đó đã thống kê được 7.004 loài thuộc 850 chi và 289 họ[30]. Lê Khả Kế và các cộng sự (1969-1976) đã công bố bộ sách “Những cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm có 6 tập[15]. Từ năm 1971 đến 1988, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập của bộ “ Cây gỗ rừng Việt Nam”, trong đó giới thiệu khá chi tiết các loài[31]. Năm 1993, Trần Đình Lý và các cộng sự đã giới thiệu cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” trong đó đã giới thiệu 1900 loài, gồm các loài thực vật như rau ăn, tinh dầu, dược liệu[21]…Từ năm 1991 đến 1993, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản cuốn “Cây cỏ Việt Nam” [18], bộ sách này gồm 6 tập được xuất bản tại Canada và được tái bản ở Việt Nam, ông đã tiến hành khảo sát các mẫu thực vật của Việt Nam tại Bảo tang lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), nên những loài được thống kê là những loài đã có mẫu rõ ràng.
Bên cạnh đó, bộ sách này còn có hệ thống khoá phân loại được lập một cách công phu. Có thể nói đây là một công trình cực kì có giá trị cho những nhà nghiên cứu thực vật và những nhà bảo tồn. Năm 1997 Nguyễn Tiến Bân đã biên 6 soạn cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ Thực vật Hạt kín ở Việt Nam” giới thiệu 265 họ, khoảng 2300 chi thuộc ngành Hạt kín ở Việt Nam[2]. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lí dựa trên bảng phân loại của Brummitt và thống kê được hiện nay Việt Nam có khoảng 11.178 loài thuộc 395 họ và 2.
Tiếp đó, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã xuất bản cuốn “Cẩm nang Nghiên cứu đa dạng sinh vật”[28], đây là công trình có ý nghĩa rất lớn cho những người điều tra và nghiên cứu về thực vật, nó giúp người đọc có thể bước đầu tiếp cận được với phương pháp nghiên cứu và nhận biết các họ thực vật ngay tại hiện trường.