Chương 1. Cơ sở khoa học về cải cách thủ tục hành chính. Thực trạng về cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thủ tục hành chính Từ điển tiếng Việt thông dụng của tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa: “Thủ tục là cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước” [3]. Theo gốc từ Hán-Việt, thuật ngữ “hành chính” có nghĩa là sự thi hành những chính sách và pháp luật của Chính phủ [1].
Theo cuốn sách “Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” do Jairo Acuña-Alfaro làm chủ biên. Khái niệm: “Hành chính được hiểu là bộ máy tổng thể bao gồm chính sách, quy định, quy trình thủ tục, hệ thống, cơ cấu tổ chức bộ máy, nhân sự. do nhà nước đầu tư ngân sách, chịu trách nhiệm tổ chức quản lý, điều hành thực hiện các hoạt động cung ứng dịch vụ công của Chính phủ, trong đó có thực thi các văn bản pháp luật của Chính phủ” [4]. Khái niệm “Thủ tục hành chính” có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 63 2010 NĐ-CP Về kiểm soát thủ tục hành chính: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” [13].
Theo “Giáo trình Thủ tục hành chính” của tác giả Nguyễn Văn Thâm định nghĩa: Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và cá nhân công dân. Nó giữ vai trò đảm bảo cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền của các cơ quan nhà nước hoặc của các cá nhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước [2]. Với những cách tiếp cận trên, có thể khái quát khái niệm về “Thủ tục hành chính” chung nhất như sau: Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước, trong đó các cơ quan, cán bộ và công chức thực hiện nhiệm vụ, còn cá nhân và tổ chức thực hiện 11 quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc quản lý hành chính nhà nước. Khái niệm cải cách thủ tục hành chính Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cải cách” nhưng theo sách Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: Cải cách có nghĩa là đổi mới để tiến bộ hơn, phù hợp với sự phát triển chung của xã hội mà không ảnh hưởng tới nền tảng của chế độ hiện tại.
Như vậy, “cải cách” có nghĩa là sự thay đổi có tính hệ thống, có mục tiêu rõ ràng giúp cho một tổ chức hoạt động tốt hơn. Cuốn sách “Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” do Jairo Acuña-Alfaro làm chủ biên, định nghĩa: Cải cách hành chính là quá trình thay đổi toàn diện và tổng thể trên mọi lĩnh vực của nền hành chính, bao gồm cơ cấu tổ chức, phân cấp, phân quyền, quản lý nhân sự, cải cách tài chính công, cải cách hệ thống pháp luật,. Cải cách hành chính công nhằm đổi mới các quy tắc công vụ và tăng cường tính minh bạch trong các cơ quan hành chính nhà nước [4]. Căn cứ vào Quyết định số 53 QĐ-BCĐCCHC Về việc ban hành kế hoạch hoạt động năm 2018 của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ: Cải cách thủ tục hành chính được hiểu là tháo gỡ các cơ chế, chính sách, TTHC liên quan đến đất đai, nông nghiệp nông thôn, ứng dụng công nghệ thông tin, khởi nghiệp, phát triển du lịch, tiếp cận tín dụng; bảo hiểm xã hội, chính sách đối với người có công; lý lịch tư pháp, hộ tịch… Tiếp tục cắt, giảm, đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành, điều kiện kinh doanh và chi phí cho doanh nghiệp [15].
Như vậy có thể hiểu rằng, cải cách thủ tục hành chính là tổng thể quá trình rà soát và đánh giá để loại bỏ những bước, những thủ tục không hợp lý, lỗi thời, không cần thiết; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành thủ tục hành chính mới theo luật định, đồng thời thực hiện công khai, minh bạch tất cả các TTHC tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức; góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả Nhà nước và cá nhân, tổ chức. Sự cần thiết cải cách thủ tục hành chính Căn cứ theo Nghị quyết số 38-CP ngày 04/05/1994 của Chính phủ về cải 12 cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, các Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước qua các giai đoạn từ năm 2001 cho đến nay. Khóa luận đã rút ra sự cần thiết phải cải cách TTHC có những ý cơ bản sau đây: Cải cách TTHC đáp ứng đòi hỏi khách quan của tiến trình đổi mới đất nước: Thứ nhất, thủ tục hành chính thể hiện trực tiếp, phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước với tổ chức và công dân, do đó cải cách TTHC là tất yếu khách quan, cải cách để phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Thực tế, quá trình thực hiện các thủ tục hành chính đã bộc lộ một số tồn tại như: việc xác định vai trò, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết TTHC chưa được rõ ràng; một số thủ tục còn chồng chéo nhau, một lĩnh vực, một vấn đề được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau vừa thiếu tính đồng bộ, vừa rườm rà, phức tạp mà chưa có văn bản pháp luật thống nhất.
Tình trạng này đã gây nhiều khó khăn cho các nhà quản lý cũng như bản thân các đối tượng chịu sự tác động. Do đó, cải cách TTHC là vô cùng cần thiết, giúp cho hoạt động quản lý được hiệu quả hơn, tạo thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức. Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các nội dung cải cách khác trong chương trình tổng thể cải cách hành chính, qua đó có thể xác định các công việc cơ bản của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp, xây dựng bộ máy phù với yêu cầu thực tế, lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được yêu cầu công việc. Thứ ba, cải cách TTHC có tác động rất quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Thông qua việc cải cách TTHC, môi trường kinh doanh được cải thiện, minh bạch, lành mạnh, các chi phí không cần thiết sẽ được cắt giảm hợp lý, đúng quy định tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của toàn xã hội. Cải cách TTHC theo hướng đơn giản hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập khẩu, an sinh xã hội.góp phần nâng cao vị trí xếp hạng của nước ta về tính minh bạch, môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh. 13 Thứ tư, một lý do hết sức quan trọng cần phải cải cách thủ tục hành chính đó là các điều kiện về nguồn lực còn nhiều hạn chế không thể thực hiện nhiều nội dung cải cách cùng một lúc thì việc lựa chọn cải cách TTHC là một trong những giảp pháp hàng đầu mang lại hiệu quả thiết thực nhất, giúp thúc đẩy hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng kinh tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các nội dung cải cách khác: cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, cải cách tài chính công, cải cách thể chế, cải cách chế độ công vụ. Thứ năm, cải cách TTHC đẩy mạnh việc công khai, minh bạch trong tiếp nhận và giải quyết các công việc do cơ quan nhà nước tiến hành; tạo thuận lợi cho nhân dân có thể giám sát quá trình thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước, đồng thời để nhân dân biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, tạo được lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước, góp phần ổn định trật tự xã hội.
Nguyên tắc cải cách thủ tục hành chính Căn cứ vào “Giáo trình Thủ tục hành chính” (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, năm 2012) do GS. Nguyễn Văn Thâm làm chủ biên; căn cứ theo Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 04/05/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, và các Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước qua các giai đoạn từ năm 2001 cho đến nay. Khóa luận rút ra một số nguyên tắc cải cách thủ tục hành chính chủ yếu cần được áp dụng thống nhất như sau: Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật Cải cách thủ tục hành chính phải trên cơ sở hợp hiến, hợp pháp, đảm bảo tuân thủ những quy định, quy tắc được pháp luật quy định. Việc quy định mới hoặc bổ sung, sửa đổi bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính phải thực hiện đúng thẩm quyền, được thể hiện bằng văn bản, đảm bảo tính đồng bộ, chính xác, không được trái với luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ [2].
Các quy định thủ tục hành chính phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và phải được công bố, công khai để mọi cơ quan, đơn vị và nhân dân đều được biết và thực hiện. Đối với một số quy định thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Bộ, 14 ngành Trung ương, nhưng cần phải có quy định riêng để phù hợp với đặc điểm của một số địa phương thì các Bộ, ngành Trung ương có văn bản uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành quy định. Các quy định này của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phải có sự thống nhất của Bộ, ngành quản lý về lĩnh vực đó và phải được công bố công khai như quy định thủ tục hành chính của Bộ, ngành [11].