CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KIEM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về Kiểm soát chỉ NSNN cấp huyện qua KBNN 1. Các khái niệm về kiếm soát chỉ NSNN (1) Ngân sách Nhà nước : Philip E. Taylor (1963) đã định nghĩa rằng “Ngân sách là chương trình tài chính chính yếu của Chính phủ.
Tài liệu này tập trung các dự liệu thu và chỉ trong khoảng thời gian của tài khoá, bao hàm các chương trình hoạt động phải thực hiện và các phương tiện tài trợ các hoạt động dy”. Như vậy, NSNN chính là một kế hoạch tài chính lớn của một quốc gia mà Quốc hội là người quyết định để cho phép Chính phủ thực hiện trong phạm vi một tài khoá xác định. Luật NSNN năm 2015 đã định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. [5,tr2] Định nghĩa này phản ánh được nội dung cơ bản của ngân sách, quá trình chấp hành ngân sách, niên độ của ngân sách; đồng thời thể hiện được tính pháp lý của ngân sách, thể hiện quyền chủ sở hữu ngân sách của Nhà nước, thẻ hiện vị trí, vai trò, chức năng của NSNN.
Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường dé chỉ tổng số thu và chỉ của một đơn vị trong thời gian nhất định, một bản tính toán các chỉ phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó; nếu chủ thé đó là Nhà nước thì ngân sách đó được gọi là NSNN. Theo tôi, cách tiếp cận khái niệm trong Luật NSNN năm 2015 là phù hợp, bởi nó không những đúng với niên độ ngân sách theo năm mà đúng với cả các thời kỳ. (2) Chi Ngân sách Nhà nước: Về phương diện quỹ, chỉ NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN thực hiện quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng.
Do đó, chỉ NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bé cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. Chỉ NSNN có quy mô lớn và phạm vi rộng, bao trùm hau hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, ngành và địa phương trong cả nước và toàn bộ bộ máy nhà nước. Từ luận giải như trên có thể hiểu rằng: Chỉ NSNN là quá trình nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung vào việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ về kinh tế, chính trị và xã hội của nhà nước cũng như duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước. Chỉ NSNN bao gồm: Chỉ đầu tư phát triển; chỉ dự trữ quốc gia; chỉ thường xuyên; chỉ trả nợ lãi; chi viện trợ; các khoản chỉ khác.
Trong đó chi cho đầu tư phát triển luôn là một khoản mục chỉ quan trọng của Chính phủ Việt Nam trong những năm qua. Ngân sách Trung ương, ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nhiệm vụ chi cụ thể theo nguyên tắc nhiệm vụ chỉ thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm. Việc quyết định đầu tư các chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp. (3) Chi đầu tư XDCB: Chi đầu tư XDCB là bộ phận cơ bản của chi đầu tư phát triển là loại hình đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn của toàn xã hội.
Thông qua đầu tư XDCB, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nên kinh tế được tăng cường, đổi mới, hoàn thiện, hiện đại hóa; góp phần quan trọng hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, 12 thực hiện mục tiêu ôn định kinh tế vĩ mô, thúc day tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Chi đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình phân phối và sử dụng một phan vốn tiền tệ của nền kinh tế dé đầu tư xây dựng cơ sở hạ tang kinh tế - xã hội, phát triên sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa, nhằm thực hiện mục tiêu ồn định kinh tế vĩ mô, thúc day tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. (4) Chỉ thường xuyên NSNN: Bao gồm các khoản chi cho các lĩnh vực: Quốc phòng; An ninh và trật tự, an toàn xã hội; Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề; Sự nghiệp khoa học và công nghệ; Sự nghiệp y tế, dan số va gia đình; Sự nghiệp văn hóa thông tin; Sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tấn; Sự nghiệp thể dục thể thao; Sự nghiệp bảo vệ môi trường; Các hoạt động kinh tế; Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tô chức chính trị - xã hội bao gồm: Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; Chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chỉ hỗ trợ thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật; Các khoản chỉ thường xuyên khác theo quy định của pháp luật. (5) Kiêm soát chỉ: Trong quản lý, kiểm soát là chức năng quan trọng của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin về các quá trình, hiện tượng đang diễn ra trong một tổ chức.
Kiểm soát được thể hiện ở cả hai mặt (i) kiểm soát là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh, (ii) thông qua kiểm soát, các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được sai sót có thể nảy sinh. Có thể khái quát rằng: - Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo sự thực hiện theo kế hoạch. 13 - Kiểm soát chỉ NSNN là việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN diễn ra theo các khâu của quy trình NSNN, từ lập dự toán, chấp hành dự toán được duyệt đến quyết toán NSNN nhằm đảm bảo mỗi khoản chỉ NSNN đều được dự toán từ trước, được thực hiện đúng theo dự toán được duyệt, đúng theo định mức, tiêu chuẩn được duyệt và đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội. (6) Kiểm soát chỉ NSNN: Theo Vũ Đức Hiệp (2018) Kiểm soát chỉ NSNN được hiểu là việc các cơ quan có thâm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, rà soát, xem xét và đánh giá tinh hợp pháp, hợp lý của các khoản chỉ NSNN do các chủ thể thực hiện, dựa trên sự đối chiếu với các chính sách, chế độ định mức chỉ tiêu do nhà nước quy định và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức phương pháp quản lí tài chính trong từng giai đoạn.
Vi vậy, Kiểm soát chỉ NSNN được đặt ra đối với mọi quốc gia, dù đó là quốc gia phát triển hay đang phát triển. [4, tr20] Tác giả đồng nhất với quan điểm cho rằng, Kiểm soát chỉ NSNN là quá trình thẩm định và kiểm tra các khoản chỉ NSNN (trước, trong và sau khi thanh toán) theo đúng chế độ chi NSNN và theo dự toán chỉ tiêu đã được co quan nhà nước có thâm quyền thông qua. Kiêm soát chỉ NSNN được quan niệm như là một chế định pháp luật trong đó bao gồm tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình kiêm soát việc chỉ tiêu NSNN ở các cấp các ngành, các đơn vị cơ sở có sử dụng NSNN. Đặc điển và quy trình kiểm soát chỉ NSNN cấp huyện 1.
Ngân sách Nha nước cáp Huyện: Theo Giáo trình quản lý tài chính công (2005) thì ngân sách cấp huyện là một cấp ngân sách nằm trong hệ thống NSNN, thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên phạm vi địa bàn huyện. Ngân sách cấp huyện bao gồm toàn bộ các hoạt động thu, chỉ ngân sách gắn với thực hiện chức năng nhiệm vụ của chính quyền huyện. Ngân sách cấp huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính của huyện. Mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất nhà nước XHCN và đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của huyện.
Ngân sách cấp huyện được hiểu là tat cả các khoản thu - chỉ của Nhà nước trên địa bàn quận và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với chính quyền địa phương cấp Huyện trong sự phát triển KT-XH, giữ vững Quốc phòng - An ninh (QP-AN), chăm lo phát triển toàn diện về văn hóa xã hội, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, được thể hiện cụ thể qua các mặt sau: - Ngân sách huyện là nguồn tài chính quan trọng nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy chính quyền huyện trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình. - Ngân sách huyện có vai trò quan trọng trong việc kích thích sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện, đảm bảo sự ồn định phát triển KT-XH trên địa bàn huyện. - Ngân sách huyện còn đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa ngân sách tỉnh và ngân sách xã trong việc tạo dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới, nhất là tiến trình cả nước thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ có tác dụng sâu sắc đến đời sống KT-XH của từng đơn vị phụ thuộc trong huyện. - Ngân sách cấp huyện có vai trò dam bảo ồn định Quốc phòng - An ninh; thúc day phát triển, ồn định kinh tế; bù đắp những khiếm khuyết thị trường, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.