Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Trường trung học cơ sở và giáo viên trung học cơ sở 1. Trường trung học cơ sở Điều 2: Điều lệ trường trung học quy định: “Trường trung học cơ sở là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc trung học cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường trung học cơ sở có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng” [6].
Trường THCS là bậc học trung gian giữa TH và THPT, là giai đoạn quan trọng mà HS cần phải bổ sung đầy đủ kiến thức cơ bản của bậc học TH và tích lũy đầy đủ, toàn diện kiến thức của bậc THCS để chuẩn bị học lên THPT hoặc học tiếp vào các trường nghề hoặc trung học chuyên nghiệp. Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp 6 đến lớp 9, HS vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình TH, có độ tuổi là mười một tuổi. Chất lượng học tập của HS ở bậc này quyết định năng lực làm việc, tư duy sáng tạo, kỹ năng sống của mỗi con người. Trường trung học trong hệ thống GDQD.
Nhà trường là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân. Hệ thống nhà trường được chia thành cấp học, từng loại trường khác nhau. Nhà trường do cơ quan nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập để chuyên trách việc đào tạo con người theo yêu cầu của nền KT-XH, của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Nhà trường bao gồm các thành tố: Cơ sở vật chất; Đội ngũ nhà giáo; Học sinh; Người quản lý; Mục tiêu; Nội dung; Phương pháp giáo dục và các điều kiện giáo dục.
Giáo viên trung học cơ sở Theo quan điểm chung nhất hiện nay “Giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương”. Cụ thể hóa quan niệm này, Điều 70, Luật Giáo dục 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 chỉ rõ: “1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ. c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. d) Lý lịch bản thân rõ ràng.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên [45]. Theo đó, Luật Giáo dục hiện hành quy định nhà giáo có những nhiệm vụ sau: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và chất lượng chương 10 trình giáo dục; Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học; Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức trình độ chính trị, chuyên môn, nhiệm vụ đổi mới phương pháp giáo dục nêu gương tốt cho người học; Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Người giáo viên trong nền giáo dục hiện đại không chỉ coi là người truyền thụ cái đã chính thống, người cung cấp thông tin, trên cơ sở soạn thảo những điều có sẵn, mà phải là người đề xướng, thiết kế nội dung, phương pháp tổ chức hướng dẫn nhằm làm cho người học hứng thú, giúp người học biết cách học, khám phá, rèn luyện. Giáo viên THCS là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức, hiểu biết, dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục.
Giáo viên THCS là tập hợp được tổ chức, có chung lý tưởng, một mục đích, nhiệm vụ; đó là thực hiện chức năng vĩnh hằng của tổ chức trong tổ chức giáo dục. Giáo viên là người trực tiếp thực hiện quyết định đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm nâng cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề cao. Từ cách tiếp cận trên đây cho thấy: “Giáo viên trung học cơ sở là những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học đối với học sinh ở bậc trung học cơ sở, có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định”. Giáo viên trung học cơ sở là người làm giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường THCS và cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục THCS.
Có trách nhiệm đảm bảo chất lượng giáo dục theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục. Cùng với nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh, giáo viên THCS còn phải thường xuyên trau dồi đạo đức, năng lực sư phạm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn, phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết giúp đỡ đồng nghiệp. Tích cực học tập, rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học. Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương.
Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quyết định của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phân công, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp Quản lý giáo dục. Phối hợp với các đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, gia đình học sinh và tổ chức xã hội liên quan để tổ chức hoạt động giáo dục. Năng lực dạy học môn vật lí của giáo viên ở các trường trung học cơ sở 1.1 Năng lực Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về năng lực. 11 Theo từ điển tiếng Việt: “ Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” [51].
Theo Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT, Năng lực là “Khả năng thực hiện công việc, nhiệm vụ của giáo viên” [8]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Năng lực là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của con người ( còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả một hoạt động nào đó” [59]. Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì: “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công các hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể” [59]. Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn “ Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [59].
Có thể thấy, năng lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một hoạt động cụ thể nào đó. Năng lực là thuộc tính của nhân cách nên mang dấu ấn cá nhân thể hiện tính chủ quan trong hành động và được hình thành và phát triển theo quy luật hình thành và phát triển của nhân cách, trong đó, giáo dục, hoạt động và giao lưu có vai trò quyết định. Chúng tôi thống nhất với định nghĩa của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn về năng lực: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [59]. Năng lực có ba cấp độ khác nhau: - Năng lực bình thường: Là mức độ khởi đầu, có ở mỗi con người bình thường khi sinh ra và được phát triển, hoàn thiện qua quá trình học tập, lao động, hoạt động xã hội.
- Tài năng: Là mức độ cao của năng lực, thể hiện sự sáng tạo, nhạy bén trong suy nghĩ, trong hành động của con người. - Thiên tài: Là mức độ rất cao của năng lực, có tính độc đáo và nét riêng biệt. Năng lực được chia làm hai loại: - Năng lực chung: Là năng lực có ở mọi người bình thường. Người khỏe mạnh nào cũng đều có năng lực chung ở các mức độ khác nhau.
Đó chính là trí tuệ của con người. Năng lực chung là cơ sở cho sự phát triển năng lực chuyên biệt. Trong giáo dục, phát triển và hoàn thiện năng lực chung là nhiệm vụ của giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông. - Năng lực chuyên biệt: Là năng lực thể hiện sự riêng biệt có tính chuyên môn nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động chuyên môn đạt hiệu quả.
Năng lực dạy học Năng lực sư phạm thuộc loại năng lực chuyên biệt, đặc trưng cho nghề dạy học. 12 Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Năng lực sư phạm là tổ hợp những đặc tính tâm lý của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công của hoạt động ấy” và “Năng lực sư phạm tựa như là hình chiếu của hoạt động sư phạm”. Năng lực sư phạm có cấu trúc gồm: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực tổ chức. Như vậy, năng lực dạy học là một thành tố quan trọng của năng lực sư phạm của giáo viên, giúp GV thực hiện hoạt động dạy học có hiệu quả và chất lượng.
Tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng “Năng lực dạy học là những thuộc tính tâm lý mà nhờ đó người giáo viên thực hiện tốt hoạt động dạy học. Để có thể thực hiện tốt hoạt động dạy học, người giáo viên phải có vốn kiến thức cơ bản về môn học, về quá trình dạy học, hiểu biết về người học, có năng lực tổ chức quá trình dạy học, năng lực sử dụng các công nghệ, kỹ thuật dạy học”.