Chương I TONG QUAN VE CA TRU 1. Quả trình hình thành của Ca trù 1. Tên gọi của Ca trừ Ca trủ là một hình thức “ca nhạc thính phòng”, thịnh bành từ thế kỹ 15, viên là một loại ca nhạc cung định, được sử dụng trong các buổi hát clsuc thọ vua chúa và các buổi lễ trong triều đình. Qua thời gian, Ca trủ dân dẫn phát triển rộng rãi trong dan gian qua giới quan lại, đại gia, tằng lớp sĩ phu, nho học giàu sang.
và trở nên thông đụng, Tuy vậy, Ca trù khác với các loại hình. đân ca khác, nỏ có quy định rất nghiêm ngặt về số câu, số chữ, lòi văn, đổi ngẫu, v. Có lẽ vi thể mà Ca trủ vẫn được thưởng thức tập trung phần lớn & tầng lớp có học thức cao rộng trong xã hội xưa. Trong nền âm nhạc đân tộc dỗ truyền Việt Nam, không mội thể loại âm nhạc nào lại có tính đa điện như nghệ thuật Ca trà.
Trãi heo động chảy của thời gian, tủy theo từng không gian văn hỏa hay chức nắng xã hội phối thuộc má loại hình nghệ thuật này mang những tên gọi với nhiều ý nghĩa khác nhau. Căn cử vảo các nguồn sứ liệu, có thể thống kẻ một số tên gọi phổ biển như sau: + lát Á. đảo: Theo Dại Việt sứ ký toàn thự của Ngô Sĩ Liên : Dời vua Lý Thải Tế (1010-1028) có người ca nương tên la Dao Thi giỏi nghề ca hat, thường được nhà vua ban thưởng. Người thời bảy giờ ngưỡng mộ đanh tiếng, của Dảo Thị nên goi 1a Dao nương [L§ ] “Trong sách Cổng đư tiệp lỳ , Vũ Phương Dẻ viết ù cuối đời nha 116 (1400 - 1407), có người ca nữ họ Đào quê ö huyện Tiên Lữ, tĩih Hưng Yên, 2.
Mục đích nghiên cứu “Thực hiện để tài nghiên cứu náy, tôi mong muốn được gớp phản nhỏ hé của mình vào công cuộc xảy dựng chương trình hành động cụ thể nhằm báo tôn và phát huy di sản Ca trù, làm cho Ca trủ được phục hưng trong môi trường simh thải nhân vẫn, nơi nộ được sảng lạo ra và lưu truyền tuổi mãi cho các thế hệ mai sau, góp phần gìn giữ một bản sắc văn hỏa của từng địa phương và cã quốc gia, dân tộc 3. Tình hình nghiên cửu Ca trù theo một số chuyên gia, có thể sinh ra từ đời Lý (thể kỹ thứ 11) hay muộn nhất cũng từ đời Lẻ (thẻ kỷ thứ 15) cách nay hơn 300 năm. Việc sưu tâm, nghiên cứu, giới thiệu về Ca trủ co nhiều công trình và bài viết để cập đến, tiêu biểu như: Trước liệt phải kế đến công trình Đảo nướng ca của lắc giả Nguyễn Văn Ngoc [27] “Tiếp đến là Việt Mam Ca trà biên khảo của hai tác già Đỗ Bằng Đoàn và Để Trọng Huẻ [9]. Đây có thể coi là quyên sách bể thể nhất về việc khảo cứu Ca trù.
Hai soạn giả với cát nhân tổng thể, đã lập hợp khả đây đặn những tư liệu liên quan đến Ca trú. Ngô Linh Ngọc - Ngô Văn Phú với fyễn tập thơ Ca trừ [25] Sau đó phải nởi đến nhóm công trình và bài viết của Nguyễn Đức Mậu. với Thể loại Hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học [21], Ca trù nhìn từ nhiằu phía [22] và Thơ trong Ca tù [23] Dac biét, trong công trình Góp phần 8m biểu lịch sử Ca trừ [4] và Lịch sử vả nghệ thuật Ca trù Việt Nam [6] của Nguyễn Xuân Diện, đã cho chúng ta biết rằng, tại Viện Hàn Nôm, có lưu trữ 39 quyển sách viết bằng chit Nom về Ca trù, 78 văn ba vẻ thể lệ, sinh hoại Ca hủ và còn có 93 sách báo viết bằng chữ quốc ngữ về Ca trù 10 dt bac wituhi yêu nước, lập mưu giết được nhiều giặc Minh bằng “ay nhan kế”: hát cho chúng nghe vả chuốc rượu có thuốc mê, khi chủng “xỉu” thì kêu “quân ta” đến hạ thú! Khi nàng chết, dân láng lập đền thờ và gọi thôn nàng cư ngụ lả thôn  Dao. Sau đó những người làm nghề ca hát như nàng đều được gọi là Á đảo.
Á đào thường ở chưng với nhau thánh một phường, một xóm, bám ngày làm sông việc đông ruộng hoặc chăn tẫm dội vãi như các gô gái thôn quê khác. Tối đến họ tới nhẻ quản giáp luyện tập múa hái và gõ phách đo quán giáp và mấy ả đào giả nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật chỉ bảo, khi có nơi mời đến hát - tắt nhiên là hình thức Ca trủ - thi mới đi hát. Vì thể, người ta thuận mềm gọi là hátA Dao [9, tr 78] Trên sử liệu, những sự kiện về một ca nương nổi tiếng chímg tỏ nghề nghiệp của bà vào thời điểm lịch sử đó đã được phố biển như thé nao trong xf hội Theo dé, A đào được cơi là tên gọi cổ xưa nhật gũa thể loại âm nhạc Ca trủ. ~+Hát ca trù: Theo Việt Nam Ca trừ biên khảo, ö cửa đền ngày xưa có lệ hat thé.
The gọi là Trủ, làm bằng mảnh tre ghi mức tiền ứng với giá trị mỗi thé, dung để thưởng ả đảo thay cho tiễn mặt. Khi hát, quan viên thị lễ chia ngỗi hai bên, một bên đánh chiéng (cổng) và một bên đánh trồng. Chỗ nào ä dao hát hay, bên trồng thưởng một tiếng chát, bên chiêng đánh một tiếng chiêng rồi thưởng cho một cái trú. Đến sáng đảo kép cứ theo trù thường mà tính tiền, ví đụ được 50 trù, mà trị giá mỗi trủ ân định là 2 tiễn kẽm thi lang phải trả cho TÔ quan Hiện, Vì thế hát ä đáo còn được gọi là Ơa bù, nghĩa là hát thế, Có thể nói, tên gọi Cũ trừ thể hiện rõ Lĩnh thương mại của một loại bừnh nghệ thuật - tức loại hình nảy đã đạt tâm nghệ thuật cao dễ trở thành một giá trị hàng hỏa rong đời sống xã hội.
Theo các nghệ nhân cho biết, việc thưởng, thế không chí giảnh riêng cho đào nương mà còn để thưởng cả cho kép đàn. Mục đích nghiên cứu “Thực hiện để tài nghiên cứu náy, tôi mong muốn được gớp phản nhỏ hé của mình vào công cuộc xảy dựng chương trình hành động cụ thể nhằm báo tôn và phát huy di sản Ca trù, làm cho Ca trủ được phục hưng trong môi trường simh thải nhân vẫn, nơi nộ được sảng lạo ra và lưu truyền tuổi mãi cho các thế hệ mai sau, góp phần gìn giữ một bản sắc văn hỏa của từng địa phương và cã quốc gia, dân tộc 3. Tình hình nghiên cửu Ca trù theo một số chuyên gia, có thể sinh ra từ đời Lý (thể kỹ thứ 11) hay muộn nhất cũng từ đời Lẻ (thẻ kỷ thứ 15) cách nay hơn 300 năm. Việc sưu tâm, nghiên cứu, giới thiệu về Ca trủ co nhiều công trình và bài viết để cập đến, tiêu biểu như: Trước liệt phải kế đến công trình Đảo nướng ca của lắc giả Nguyễn Văn Ngoc [27] “Tiếp đến là Việt Mam Ca trà biên khảo của hai tác già Đỗ Bằng Đoàn và Để Trọng Huẻ [9].
Đây có thể coi là quyên sách bể thể nhất về việc khảo cứu Ca trù. Hai soạn giả với cát nhân tổng thể, đã lập hợp khả đây đặn những tư liệu liên quan đến Ca trú. Ngô Linh Ngọc - Ngô Văn Phú với fyễn tập thơ Ca trừ [25] Sau đó phải nởi đến nhóm công trình và bài viết của Nguyễn Đức Mậu. với Thể loại Hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học [21], Ca trù nhìn từ nhiằu phía [22] và Thơ trong Ca tù [23] Dac biét, trong công trình Góp phần 8m biểu lịch sử Ca trừ [4] và Lịch sử vả nghệ thuật Ca trù Việt Nam [6] của Nguyễn Xuân Diện, đã cho chúng ta biết rằng, tại Viện Hàn Nôm, có lưu trữ 39 quyển sách viết bằng chit Nom về Ca trù, 78 văn ba vẻ thể lệ, sinh hoại Ca hủ và còn có 93 sách báo viết bằng chữ quốc ngữ về Ca trù 3.
Giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá Ca bủ với đông đão công ching trong, va ngoai nude. Tiên hành kiém ké di san Ca tri theo fiah ky. Triển khai các đề tải nghiên cửu khoa học và xuất bán sách về Ca trù Tiểu kết chương 3 KẾT LUẬN. TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ LỤC trú cũng bị mờ dẫn vị trí để nhường chỗ cho sự xuất hiện của các dòng nhạc khác San gần nửa thế kỹ “ùn bơi, lặng tiếng”, gân day, Ca ini lại bắt đâu được dư luận xã hội chú ý. Xác định nghệ thuật Ca trủ là một trong những vốn quý. của dân tắc cân được bão vệ, các cơ quan chức năng cing như những người yêu mền nghệ thuật Ca trù dang ngay dêm tìm ra phương hưởng dễ báo tồn và phát huy loại hùnh nghệ thuật độc đáo này. Tháng 1Ô nắm 2009, Ca trủ đã dược Ưnesco công nhận là đi sản văn hóa phi vật thể cân được bảo vệ khẩn cấp.
Theo đó, riưêu gông trình nghiền cứu, rêu cuộc liội thảo đặt ra vân để là phải làm thế nào để bão tên và phát huy được loại hình nghệ thuật ấy. Trước mit, di cd uliéu giáo phường, nhiều Câu lạc bộ Ởa tủ được thành lập và hoạt động ở nhiều địa phương như Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tinh, Hai Phong, Hai Duong, TP. Hé Chi Minh,. Thực tế này khẳng dịnh, Ca trủ đã và đang được tiếp nối và sẽ mang một sức sống mới.
Tuy nhiền, cho tới nay việc truyều bá, mở rộng nghệ thuật này vẫn chưa có được sự đầu tư xứng đáng với tầm vóc cúa nó. lên cạnh đó, ngày nay không it bài Ca trà cễ da va dang mi dần khi chủ nhân dích thực của nó từng một thời là những đảo nương nếi tiếng nay đã ở tuổi xưa nay hiểm. Nhiều người chưa kịp truyền lại yến quý ấy cho con cháu dã vội nang nó theo về chồn vĩnh hằng. Tỉnh thân Nghị quyết Trung ương V khóa VII cũng như Nghi quyết Đại hôi Đảng lần thứ IX chỉ rõ “Xây dựng nên văn hóa Việt Nara tiên tiên, đậm đà bản sắc đân tộc” đã giúp chímg ta nhận thức đầy đủ hơn về những giả trị của di sản văn hóa, nghệ thuật dân tộc, trong, đỏ có Ca trủ, Với những lý đo trên, tôi đã chọn đề tài Báo đốn và phát huy Ca trà trong dời sông đương đại lau luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học cho minh, 3.
Giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá Ca bủ với đông đão công ching trong, va ngoai nude. Tiên hành kiém ké di san Ca tri theo fiah ky. Triển khai các đề tải nghiên cửu khoa học và xuất bán sách về Ca trù Tiểu kết chương 3 KẾT LUẬN. TÀI LIỆU THAM KHẢO.